Showing posts sorted by relevance for query Tiếng Trung Quốc một biến thể suy thoái của tiếng Việt. Sort by date Show all posts
Showing posts sorted by relevance for query Tiếng Trung Quốc một biến thể suy thoái của tiếng Việt. Sort by date Show all posts

TIẾNG TRUNG QUỐC, MỘT BIẾN THỂ SUY THOÁI CỦA TIẾNG VIỆT




Năm 1838, tác giả cuốn Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị (Dictionarium Annamitico-Latinum), Giám mục Taberd tuyên bố: “Tiếng Annam là một dạng suy thoái của ngôn ngữ Hán.” Năm 1912, trong công trình “Các nghiên cứu về ngữ âm lịch sử của tiếng An Nam” (Etudes sur la phonétique historique de la langue annamite: Les initiales), Viện sỹ Henri Maspéro khẳng định, tiếng Việt vay mượn khoảng 75% từ ngôn ngữ Hán. Có người đề xuất ý kiến xác lập họ ngôn ngữ Annam đã bị phản bác với lý do: “Không xứng đáng vì vay mượn quá nhiều từ nước ngoài.” Hơn nửa thế kỷ, các học giả tiên phong như Trần Trọng Kim, Ngô Tất Tố… đã học theo để dạy cho lớp lớp con dân Việt. Những lời lẽ có gang có thép của các học giả danh tiếng đã chi phối lâu dài học thuật nhân loại. Cho đến nay, trong giáo trình của các đại học hàng đầu thế giới vẫn ghi con số tròn trĩnh: “Tiếng Việt Nam vay mượn khoảng 60% từ ngôn ngữ Trung Quốc.” Suốt thế kỷ XX không ai ngờ rằng đó là một trong những sai lầm nghiêm trọng của phương Tây trên con đường “khai hóa” phương Đông.
Trong 20 năm đầu của thế kỷ XX, khoa học cho thấy sự thật ngược lại: Tiếng Việt là chủ thể làm nên ngôn ngữ Trung Quốc. Con người và tiếng nói Trung Quốc được hình thành theo quá trình như sau: 40.000 năm trước, người Việt cổ mà chủ yếu là người Lạc Việt chủng Indonesian từ Việt Nam đi lên chiếm lĩnh vùng đất Quảng Đông ngày nay. Tại đây người Việt tăng nhân số rồi lan tỏa ra toàn bộ Hoa lục. 9000 năm trước xây dựng văn hóa Giả Hồ, 7000 năm trước xây dựng văn hóa Ngưỡng Thiều trên lưu vực Hoàng Hà… Với một nghĩa nào đó thì người Quảng Đông là tổ tiên của người Trung Quốc. Lẽ đương nhiên, tiếng Quang Đông là nguồn gốc của tiếng nói Trung Quốc. Do vậy, tiếng Việt Quảng Đông cũng thăng trầm cùng với lịch sử Trung Quốc.
Năm 2698 TCN, người Mông Cổ do Hiên Viên dẫn đầu đánh chiếm miền Trung Hoàng Hà của người Việt, lập nhà nước Hoàng Đế. Tuy chiến thắng quân sự nhưng do nhân số ít và văn hóa kém phát triển, người Mông Cổ bị người Việt đông đảo đồng hóa cả về máu huyết lẫn văn hóa, trong đó nổi bật là tiếng nói. Người Mông Cổ học tiếng nói phong phú của người Việt. Nhưng là người cai trị, họ buộc dân bản địa phải nói theo cách nói Mông Cổ với thành phần phụ (tính từ, trạng từ) đứng trước, thành phần chính (danh từ, động từ) đứng sau. Mặt khác, do cấu tạo của thanh quản, người Mông Cổ không phát âm được một số âm và âm tiết, như âm “b”, “đ”, “v”, “r” rung, “ng”, “nh” v.v…  nên buộc phải nói ngọng tiếng Việt. Kẻ thống trị áp đặt cách nói ngọng lên xã hội khiến cho toàn bộ cư dân vương triều cùng nói ngọng.
Theo dòng chảy lịch sử, từ sau thời Chu, nhiều triệu dân Hung Nô, Tiên Ti từ phía bắc tràn vào Trung Quốc, khiến cho ngôn ngữ biến chuyển theo tiếng nói các sắc dân phía Bắc. Tới thời Đường, do tiếng nói các vùng trong đất nước quá khác biệt tới mức không hiểu được nhau nên triều đình buộc các viên quan khi lâm triều phải nói tiếng của kinh đô Tràng An. Dân gian gọi là tiếng nói của vua quan và lần đầu tiên thuật ngữ  quan thoại ra đời. Quan thoại thời Đường được gọi là Đường âm. Sau thời Đường là sự thống trị lâu dài của người Mông Cổ rồi Mãn Thanh khiến cho tiếng nói Trung Quốc ngày càng xa gốc Việt để gần hơn tiếng nói của dân phương Bắc. Đến thời nhà Thanh, tiếng người Mãn Thanh nói ở Bắc Kinh được dùng làm quan thoại, gọi là Mandarin. Thật sự, đó giọng người nước ngoài nói ngọng tiếng Trung Quốc, bị áp đặt thành tiếng nói chính thức của dân tộc Trung Hoa.
Như vậy, trải quá trình gần 5000 năm, tiếng Trung Quốc từ tiếng Việt ban đầu trở thành quan thoại như ngày nay. Dó là quá trình thoái hóa liên tục, thể hiện trên các mặt:
 a, Nghèo hóa.
a.1. Nghèo về từ vựng
Ta biết, tiếng Lạc Việt cũng như mọi ngôn ngữ từ tổ tiên châu Phi khác, đều đa âm và không thanh điệu. Ban đầu tiếng Việt Quảng Đông cũng như vậy và đó cũng là tiếng nói của dân cư lưu vực Hoàng Hà. Nhưng khi chế tác chữ vuông, do chữ vuông đơn lập, mỗi chữ chỉ ghi được một âm nên những tiếng muốn được ký tự buộc phải bỏ bớt phần phụ như blời phải bỏ b để thành lời => trời => thiên; krong phải bỏ bớt k để thành rong: rồng, long… Mặt khác tiếng nói có từ lâu nên rất nhiều còn chữ làm ra lại ít nên không đủ chữ ký âm hết tiếng nói khiến cho một số tiếng không được ký tự, chỉ được dùng truyền miệng trong dân gian. Lâu dần những tiếng như vậy bị rơi rụng. Người ta thống kê được khoảng 30% từ vựng gốc Việt ở lưu vực Hoàng Hà bị biến mất.
a. 2. Nghèo về âm điệu.
Tiếng Việt trên Hoa lục liên tục chuyển hóa từ đa âm, vô thanh sang đơn âm hữu thanh. Căn cứ vào sách Thuyết văn giải tự là cuốn tự điển tiếng Việt đầu tiên được soạn vào thời Hán thì ở thời điểm này, tiếng Việt có sáu thanh. Cho tới thời Đường, khi Đường âm ra đời và được mang sang dạy ở Việt Nam thì Đường âm (ở Việt Nam được gọi là chữ Nho) vẫn có sáu thanh điệu. Nhưng quan thoại Bắc Kinh hiện nay chỉ còn bốn thanh điệu. Do số thanh điệu giảm nên khoảng cách giữa các từ thu hẹp khiến cho tiếng Trung Quốc có nhiều từ đồng âm, khi nói rất khó phân biệt.
b, Ngọng hóa
Cho đến đời Hán, khi cuốn Thuyết văn giải tự ra đời, tiếng nói của người Trung Quốc vẫn là tiếng Việt chuẩn, được gọi là Nhã ngữ (tiếng nói thanh nhã). Đến thời Đường, với Đường âm, thì tiếng nói vùng kinh đô Tràng An vẫn là tiếng Việt chuẩn. Nhưng sau đó, do dân phương Bắc tràn vào và nhất là sau thời đô hộ của người Nguyên, Thanh, người Trung Quốc buộc phải nói theo quan thoại Mandarin. Nếu quan thoại thời Đường là tiếng Việt chuẩn của kinh đô Tràng An thì quan thoại Bắc Kinh là cách nói ngọng tiếng Trung Quốc của người ngoại quốc được áp đặt cho toàn dân Trung Quốc nói theo.
Như vậy, về thực chất, tiếng Trung Quốc ngày nay là sự ngọng ngịu, méo mó xấu đi của tiếng Việt.
c, Bất tiện hóa.
Quy luật sinh tồn của ngôn ngữ là có sinh và có diệt: có chữ mất đi và chữ mới ra đời. Nhưng chữ Trung Quốc là chữ đơn lập, không ghép vần, nên việc chế ra chữ mới cực kỳ khó. Để thích ứng với điều này, người Trung Quốc buộc phải dùng từ đồng âm là dùng một chữ để ghi nhiều tiếng khác nhau. Việc này khiến cho một từ có rất nhiều nghĩa khiến cho người nghe không hiểu đúng ý người nói. Nhiều khi phải viết ra mới hiểu được nhau.
“Thống kê chữ đồng âm khác nghĩa trong Tự điển Tân Hoa bản thứ 10, chúng tôi thấy 10.000 đơn tự trong sách chỉ có cả thảy 415 âm tiết (không xét thanh điệu), trong đó 22 âm tiết có 1 chữ4; còn lại 393 âm tiết có nhiều chữ khác tự hình, khác nghĩa. Tổng số chữ Hán khoảng 80-100 nghìn; đem chia cho 393, suy ra mỗi âm tiết có hàng chục chữ đồng âm. Như [yi] có 135 chữ, [xi] – 123, [ji] – 122, [yu] – 118, [fu] – 98… Nếu dùng “Từ Hải” để thống kê, do sách có gần 20 nghìn đơn tự nên riêng âm [yì] (thanh điệu huyền) đã có 195 chữ đồng âm [SĐD tr.442]. Thật bất tiện khi nghe hoặc khi đánh máy một âm [yì], phải từ 195 chữ chọn ra một chữ cần thiết.” (1)  
Mặt khác, để tạo từ mới phải đùng cách đa âm hóa, làm ra những từ có hai đến ba chữ. Điều này khiến cho câu văn dài dòng. Thể hiện rõ nhất là khi lồng tiếng cho phim Hồng Kông. Người Hồng Kông nói tiếng Quảng Đông nên chỉ cần 10 từ là đủ ý. Khi chuyển sang tiếng Bắc Kinh, phải dùng đến 14 – 15 từ, buộc người biên tập phải cắt bớt để cho lời thoại phù hợp với nhịp của miệng diễn viên.
Trong khi đó ở Việt Nam, do giữ được chữ Nho và Đường âm nên bảo tồn được toàn bộ tiếng nói của người Việt ở thời Đường. Mặt khác, do sáng tạo ra chữ Nôm nên Việt Nam cũng giữ được hầu hết những tiếng không được ký tự bằng chữ Nho, không để mai một. Do có chữ quốc ngữ là chữ ghép vần nên người Việt ghi chép được tất cả mọi tiếng Việt. Tiếng Việt cũng giữ được sáu thanh. Nhờ vậy, tiếng Việt không chỉ phong phú về từ vựng mà còn giầu về âm điệu, với sức biểu cảm lớn, xứng đáng là mẹ của các ngôn ngữ phương Đông (L’Annamite mère des langues) như đề xuất của nhà ngôn ngữ Henri Frey từ cuối thế kỷ XIX.
Kết luận:
Từ giữa thế kỷ XIX, học giả phương Tây đem nhiều công sức khảo cứu lịch sử văn hóa phương Đông. Tuy nhiên, do nhận định rằng dân cư châu Á là do người Đứng thẳng Homo pekinensis Chu Khẩu Điếm sinh ra nên Trung Hoa là trung tâm phát tích của con người và văn hóa phương Đông. Con người và văn hóa Việt Nam là sản phẩm đồng hóa của Trung Hoa. Kết quả là tiếng Việt vay mượn hơn 70% ngôn ngữ Trung Hoa… Những tri thức sai lầm như vậy đã định hình trong bộ nhớ của nhân loại.
Tuy nhiên, sang thế kỷ XXI, khoa học khám phá sự thật ngược lại: người từ Việt Nam đi lên khai phá Trung Hoa và xây dựng ở đó nền văn hóa rực rỡ. Do người Việt làm nên dân cư Trung Hoa nên tiếng Việt là chủ thể làm nên tiếng nói ngữ Trung Hoa, chữ Việt là chủ thể làm nên chữ viết Trung Hoa…
Hy vọng rằng, nhân loại, trong đó người Việt Nam, sẽ sớm khảo cứu toàn diện lịch sử văn hóa phương Đông để trả lại sự thật cho dân tộc Việt.
                                                          
                                                                                                                      Sài Gòn, Xuân Canh Tý

Tài liệu tham khảo:
1 NGUYỄN HẢI HOÀNH.  LẠM BÀN VỀ TÍNH GHI Ý CỦA CHỮ HÁN  (Nhân đọc Nghiên cứu chữ Hán hiện đại của thế kỹ XX)
 tiasang.com.vn › -van-hoa › Lam-ban-ve-tinh--ghi-y-cua-chu-Han-N...

TỪ CUỐN LỊCH SỬ NGÔN NGỮ NGƯỜI VIỆT CỦA GIÁO SƯ TRẦN TRÍ DÕI


In khổ lớn, dầy dặn, bìa cứng trang trọng, cuốn sách thật đáng nể. Đáng nể hơn là lý lịch khoa học với danh mục cả trăm công trình của tác giả. Xuất hiện ở Viễn Đông nhưng cuốn sách không cô đơn mà nằm trong dòng chảy 200 năm của Ngôn ngữ học thế giới…

I. Móng nền sụp đổ

Thế kỷ XIX mở ra bình minh cho khoa học nhân văn. Để khám phá thế giới, nhà nhà nô nức đi tìm nguồn gốc loài người và các chủng tộc. Khảo cổ học ra đời làm xuất hiện khoa nhân học đo sọ. Các học giả và thày tu đi khắp nơi để khám phá: châu Phi là quê hương của người da đen. Châu Âu sinh ra người da trắng còn người da vàng xuất hiện ở châu Á. Thuyết nguồn gốc châu Phi (Out of Africa hypothesis) bị lép vế trong khi Thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người (Multiregional hypothesis) nổi lên chi phối khoa học nhân văn. Trong xu hướng đi tìm nguồn cội, do nhận thức rằng tiếng nói liên quan mật thiết với di truyền nên Ngôn ngữ học tách ra một nhánh được gọi là ngôn ngữ học so sánh (sau này là Ngôn ngữ học lịch sử) để ngõ hầu thông qua tiếng nói tìm ra quan hệ phát sinh của các chủng người…

 Năm 1806, tiếng Annam, Trung Quốc cùng nhiều ngôn ngữ phương Đông được John Caspar Leyden, một bác sĩ và nhà thơ trẻ người Scotland đưa vào họ ngôn ngữ Đông Dương (Indo-china). Họ ngôn ngữ bao gồm tất cả các tiếng nói “của các khu vực nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, và phần lớn cư dân trên đảo ở biển phía đông”, mặc dù “không giống nhau”, nhưng “thể hiện cùng một nguồn gốc hỗn hợp”. (1)

 Thuyết của Leyden được công nhận rộng rãi suốt thế kỷ nhưng rồi sau đó bị phê bình. Năm 1924, nhà ngữ học Ba Lan Przyluski thay bằng họ ngôn ngữ Hán-Tạng (Sino-Tibetan). Sau thời gian tranh chấp giữa Hán-Tạng, Tạng-Miến đến nay George van Driem đề nghị thay bằng họ ngôn ngữ Xuyên Himalaya (Trans-himalaya). Tiếng Việt ban đầu được xếp vào họ Đông Dương, sau đó chuyển sang Hán Tạng. Đến năm 2012 học giả người Pháp H. Maspero xếp vào gia đình Tày-Thái trong sự chấp nhận rộng rãi của giới học giả. Ngồi yên ổn được hai chục năm, tới 1954 A.G. Haudricourt chuyển sang nhánh Mon-Khmer của họ Nam Á cũng trong sự tán đồng nồng nhiệt. Trong sách của mình, giáo sư Trần Trí Dõi bỏ thêm một phiếu ủng hộ cho nghị quyết được thông qua gần trăm năm trước.

Thoát thai từ nền học thuật Viễn Đông Bác cổ, nhân học của nước Việt Nam dựa trên thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người. Là học trò chăm ngoan, học giả Việt Nam hết mực hiếu đễ với các bậc thầy Tây của mình. Năm 2005, trong một bài phản bác Tiến sỹ Marc Oxenham của Đại học Quốc gia Úc, Giáo sư Trần Quốc Vượng dõng dạc tuyên bố: “Việt Nam ủng hộ thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người.” (2)

Thật không may, do thiếu cập nhật thông tin, vị danh sư của Sử học Việt Nam đương đại không biết rằng gần chục năm trước, Thuyết Đa vùng đã chết lâm sàng!

II. Xác lập khoa học nhân văn mới

Đó là vào ngày 29 tháng Chín năm 1998, J.Y. Chu và đồng nghiệp Đại học Texas của ông công bố bài báo Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc (Genetic relationship of populations in China) gây chấn động: “Người hiện đại Homo sapiens xuất hiện đầu tiên ở châu Phi 180.000 năm trước. 60.000 năm trước, theo ven biển Ấn Độ, người châu Phi di cư tới Việt Nam. 50.000 năm trước, người từ Việt Nam đi ra các đảo Đông Nam Á, Nam Thái Bình Dương và châu Úc. Một bộ phận về phía Tây chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, người từ Việt Nam chinh phục Hoa lục rồi lên Siberia, qua eo Bering chiếm đóng châu Mỹ…” (3) Với bằng chứng nặng ký này, Thuyết Nguồn gốc châu Phi được khẳng định và cố nhiên, Thuyết Đa vùng bị bác bỏ.

Nền khoa học nhân văn Việt Nam dựa trên Thuyết Đa vùng sụp đổ. Sự thất bại còn thê thảm hơn, khi nhiều năm trước, Giáo sư Trần Quốc Vượng chủ xị của cổ sử Việt Nam dõng dạc tuyên bố: “Với phương pháp này, các nhà nghiên cứu kết luận rằng tất cả các con người hiện đại đều sinh ra từ một tổ tiên chung ở châu Phi trong khoảng 200.000 năm trước. Tuy nhiên tư liệu hóa thạch người dường như lại không hoàn toàn ủng hộ cho quan điểm một trung tâm phát sinh người duy nhất này.” (Lịch sử Việt Nam.Nxb Giáo dục. H, 2012. T 1, trang 22) Lời xác quyết của bậc danh sư đóng lại con đường dẫn khoa học nhân văn Việt Nam kết nối với khoa học hiện đại.

Khám phá của nhóm J.Y. Chu cùng những phát hiện di truyền và khảo cổ học thập niên đầu thế kỷ mới đã dẫn tới việc viết lại lịch sử Việt Nam và phương Đông. Từ năm 2004, khi nhận được tài liệu của Y.J. Chu, chúng tôi đã bỏ mọi công việc văn chương, tập trung tìm về nguồn cội. Trong gần 20 năm đã cho in những cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (Văn học, 2006); Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn học, 2008); Tìm cội nguồn qua di truyền học (Văn học, 2011); Viết lại lịch sử Trung Hoa (SG Cali, phát hành trên amazon); Tiến trình lịch sử văn hóa Việt (SG Cali, phát hành trên amazon); Rewriting Chinese history (Nhân Ảnh, phát hành trên amazon); The formation process of the origin and culture of the Viet people (Nhân Ảnh, phát hành trên amazon); Out of Vietnam explore in the World (Nhân Ảnh, phát hành trên amazon); Tiền sử người Việt (NXB Hồng Đức)    



 Những cuốn sách trình bày nội dung cơ bản sau:

70.000 năm trước, theo ven biển Ấn Độ, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi tới Việt Nam. Tại đây, họ gặp gỡ hòa huyết sinh ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Negrito và Mongoloid trong đó chủng đa số Indonesian giữ vai trò lãnh đạo xã hội và ngôn ngữ. 50.000 năm trước, người Việt cổ di cư ra các đảo Đông Nam Á, Nam Thái Bình Dương, châu Úc, chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, ba chủng Indonesian, Melanesian, Negrito từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục, xây dựng ở đây nền nông nghiệp phát triển. Trong khi đó, người Mongoloid theo hành lang Ba Thục đi lên đất Mông Cổ phía Bắc Hoàng Hà, ban đầu săn bắn hái lượm sau đó huyển sang du mục. Do giữ được nguồn gen thuần nên được gọi là người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid). Khoảng 7000 năm trước, khi mang kê lên trồng ở Cao nguyên Hoàng Thổ, người Việt nông nghiệp gặp và hòa huyết với người Mông Cổ du mục, sinh ra chủng người Mongoloid phương Nam, được gọi là người Việt hiện đại. Người Việt hiện đại tăng nhân số, trở thành chủ thể của dân cư lưu vực Hoàng Hà với hai trung tâm Trong Nguồn và Thái Sơn. Khoảng 5300 năm trước, tại vùng cửa sông Chiết Giang, người Việt lập nhà nước đầu tiên ở phương Đông với kinh đô Lương Chử. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ du mục đánh chiếm miền Trung Hoàng Hà, lập nhà nước Hoàng Đế. Tị nạn chiến tranh, một bộ phận người Việt từ Thái Sơn, Trong Nguồn chạy xuống Nam Dương Tử rồi theo thời gian đi tới Việt Nam. Người di cư mang gen Mongoloid chuyển hóa di truyền người bản địa Nam Trung Quốc và Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Khoảng 4000 năm trước, toàn bộ dân cư Việt Nam cùng một chủng Mongoloid phương Nam.

Như vậy, dân cư Việt Nam được hình thành theo hai giai đoạn: 70.000 năm trước, là người Việt cổ mã di truyền Australoid. 40.000 năm trước, người Việt cổ đi lên khai phá Hoa lục. Tiếng nói và văn hóa của người Việt trở thành văn hóa và tiếng nói của dân cư Hoa lục, sau này là Trung Quốc. Tại Nam Hoàng Hà, 7000 năm trước, người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam ra đời. 2500 năm TCN, người Việt hiện đại từ lưu vực Hoàng Hà di cư về Việt Nam, chuyển hóa di truyền dân cư Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Trong quá trình lịch sử sau này, người từ lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử tiếp tục trở về Việt Nam, đem văn minh phương Bắc bổ sung cho văn hóa Việt Nam. Nếu ví văn hóa Đông Á như một đại thụ thì gốc sâu rễ bền mọc trên đất Việt Nam còn cành lá sum suê và hoa thơm trái ngọt nảy nở trên lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà.

Từ bãi đá Sa Pa, khoảng 10.000 năm trước, người Việt vạch ra những ký tự tượng hình đầu tiên. Sau đó ở Cảm Tang Quảng Tây ông cha ta chế ra chữ khắc trên đá, yếm rùa và xương thú, gọi là Giáp cốt văn.  Giáp cốt văn xuất hiện ở nhiều nơi khác trên đất Trung Quốc. Khoảng năm 1400 đến 1200 TCN, tại Ân Khư kinh đô nhà Ân ở Hà Nam, chữ Giáp cốt được phát triển thành chữ Nho, đưa Trung Quốc vào thời có sử.

Những dòng ngắn gọn trên cho thấy:

1.Việt Nam là đất phát tích của người châu Á. Dân cư châu Á được hình thành theo hai thời kỳ. Thời kỳ đầu mang mã di truyền Australoid, thời ký sau thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Việt nam và người Trung Quốc cùng cội nguồn và văn hóa.

2. Người Việt cổ di cư làm nên dân cư Đông Nam Á cũng như dân cư Trung Quốc. Rời Việt Nam 50.000 năm trước, dân cư Đông Nam Á và Nam Thái Bình Dương, “một đi không trở lại,” hầu như không có sự liên hệ với đất tổ. Trong khi đó, người lưu vực Hoàng Hà lại gắn bó máu thịt cũng như lịch sử văn hóa với Việt Nam. Không chỉ mang nguồn gen Mongoloid về chuyển hóa dân cư Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam, người vùng Núi Thái-Trong Nguồn còn đem văn minh sông Hoàng Hà về góp phần xây dựng văn hóa Việt. Từ đó cho thấy, khác với quan niệm hiện có trong sách ông Trần Tria Dõi, tuy nằm trong khu vực địa lý Đông Nam Á nhưng Việt Nam gắn bó mật thiết về lịch sử và văn hóa với Đông Á.

3. Về việc hình thành ngôn ngữ đơn âm hữu thanh.

 Sau khoảng 200.000 năm sống trên đất châu Phi, con người đã trưởng thành về giải phẫu và tiếng nói. Có nghĩa là bộ não và tiếng nói đã phát triển. Do đó, tiếng nói của tổ tiên ta dã trưởng thành. Trong bốn chủng người Việt cổ được sinh ra tại Việt Nam thì chủng Indonesian (sau này gọi là Lạc Việt, Haplogroup O) là đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Trên hình 1, phần d, Haplogroup O (Lạc Việt) chiếm phần lớn diện tích châu Á. Vì vậy, tiếng Lạc Việt là ngôn ngữ chủ thể của châu Á bên cạnh nhiều ngôn ngữ con khác.

Chữ tượng hình khắc trên Giáp cốt xuất hiện từ 9000 năm trước nhưng thời gian dài chỉ được dùng cho bói toán và cúng tế. Năm 1400 TCN, khi nhà Thương chiếm đất An Dương của người Việt, bắt gặp ở đây Giáp cốt văn. Với sự năng động của chính quyền quân chủ mạnh, vua Bàn Canh quyết định cho sản xuất thật nhiều chữ Giáp cốt dùng trong hành chính, lịch sử, địa dư…

Hình phân bố dân cư theo nhiễm sắc thể Y (4)                               

Tiếng Việt, như mọi tiếng châu Phi khác, thuộc dạng đa âm, vô thanh. Trong khi đó, chữ vuông là chữ đơn lập, mỗi chữ chỉ ký âm được một tiếng. Vì vậy, muốn được ký âm, chữ buộc phải bỏ đi âm đầu hoặc âm cuối. Thí dụ blời  à trời, thiên; Krong à sông, long, rồng… Mặc nhiên, tiếng nói thành đơn âm. Một khi đơn âm, thì đọc nhẹ hay đọc nặng, chữ thành âm khác và mang nghĩa khác, thí dụ: Thanh à Thành à Thánh à thảnh à Thạnh… Qua quá trình hoạt động, tiếng Việt hình thành sáu thanh.

Do thực tế là tiếng nói nhiều mà chữ làm ra ít nên dù áp dụng hết cách thì cũng có một số tiếng không được ký âm, tức là không có chữ, bị loại khỏi văn bản, chỉ được truyền miệng. Ở lưu vực Hoàng Hà, những tiếng như vậy dần bị rơi rụng. Người ta thống kê có khoảng 30% tiếng không được ký âm nên biến mất. Kết quả là tiếng nói phía Bắc Trung Quốc chỉ còn 70% so với tiếng của tổ tiên Việt.

Tới thời Hán, dân tại lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử vẫn nói tiếng Việt. Cuốn Thuyết văn giải tự xuất hiện cuối thời Hán được coi là từ điển đầu tiên của Trung Quốc. Nhưng thực chất, đó là cuốn từ điển tiếng Việt bởi sách dạy cách đọc và giải nghĩa tiếng Việt. Trên thực tế mọi chữ Nho chỉ khi đọc bằng âm Việt và giải nghĩa theo nghĩa Việt mới chính xác.

Ví dụ:

    -  Chữ , tiếng Hoa ngày nay đọc là “Xia”. Thuyết văn ghi: : 國之人也. 夊從頁從,兩手. ,兩足也. 胡雅切 (Hạ: Trung Quốc chi nhân dã. Tùng xuôi tùng hiệt tùng cúc. Cúc, lưỡng thủ. Xuôi, lưỡng túc dã. Hồ nhã thiết.)  Nghĩa là: Hạ : người Trung Quốc vậy. Viết theo xuôi theo hiệt theo cúc. Cúc, hai tay (cúc: khép, chắp 2 tay). Xuôi, hai chân vậy. Đọc là Hạ.

Một đoạn ngắn nêu trên khi tra chữ Hạ cho thấy thời cổ đại cho đến triều Hán thì chữ của tiếng Hoa, đọc là “Hạ”. Như vậy rõ ràng là dùng âm “Xia” khi tra Thuyết văn là không thích hợp. “Hồ nhã” không bao giờ phiên âm ra thành “Xia”. Đọc theo tiếng quan thoại thì “胡雅 (Hủa + yã)” không thể nào đánh vần ra “Xia” theo cách “phản và thiết”.

    - Chữ Bôn

也。从言番聲。商書曰:王譒告之.”  補過切

 Boa dã. Tùng ngôn bàn thanh. (Thương thư) viết: “Vương bôn cáo chi”. Bổ qua thiết, là “ Bổ-ua=bua”.

Bua (Bổ qua thiết là phiên âm của đời sau). Nguyên văn của Thuyết văn là (ngôn bàn thanh) 言番聲. = Bôn.

Bây giờ người ta đọc chữ Bôn (bua) là “Phiên” hay “Phồn”. Đọc là “phồn” thì còn hợp với Thuyết văn đã ghi là “ngôn, bàn thanh”. Bôn hay Phôn hay Phồn giống nhau, chỉ là đọc giọng nặng nhẹ khác nhau theo từng miền. Người ta đọc phiên theo âm chữ ghép bên phải là “phiên ; cách đọc “phồn là vì ghép vần phiên và ngôn. Nhưng thời xưa lại đọc chữ phiên là “bàn .

Hai dẫn chứng trên cho thấy, tiếng Trung Quốc thời Hán là tiếng Việt.

 Sau thời Hán, Trung Quốc loạn lạc, nhiều triệu người phương Bắc du nhập, tiếng nói bị pha tạp, dẫn tới các vùng không hiểu được nhau. Do vậy triều đình quy định, các quan địa phương khi lâm triều phải nói tiếng của kinh đô. Tiếng kinh đô là tiếng của quan lại. Từ đó quan thoại ra đời. Quan thoại thời Đường là tiếng nói của kinh đô Tràng An, gọi là Đường âm, là ngôn ngữ chuẩn mực với đủ sáu thanh. Quan thoại thời Đường được đưa tới dạy ở Việt Nam, là chữ Nho và được lưu giữ tới nay.

 Sau thời Đường Trung Quốc càng loạn lạc, người Nguyên rồi người Thanh vào làm chủ Trung Hoa. Là dân ngoại tộc, họ không nói được chính xác tiếng Trung Quốc mà nói ngọng như âm đ nói thành t, ng nói thành h… Người nói ngọng là quan quân triều đình, tập trung ở Bắc Kinh. Tiếng Bắc Kinh trở thành quan thoại. Trước đây, tiếng nói kinh đô là tiếng nói chuẩn mực, là nhã ngữ. Nhưng nay tiếng nói của Bắc Kinh ngọng nhất nhưng do sự thống trị của kẻ ngọng nên trở thành tiêu chuẩn và quan thoại mandarin – Mãn đại nhân, ra đời. Đó là chuyện khôi hài, là nỗi đau trong lịch sử Trung Quốc!

Chữ 頭. Thuyết văn giải tự nói: Đầu là thủ! 度侯切- độ hầu thiết: đọc là đầu.

 Nhưng tới thời Thanh, do người Thanh đọc trại Đ thành T nên “Đầu” đưa vào Khang Hy tự điển thành “Tóu”.

 Như vậy, đúng như chúng tôi phát hiện, tiếng Trung Quốc là biến thể suy thoái của tiếng Việt (5). Suy thoái trên ba phương diện: i. Nghèo đi vì mất 30% tiếng không được ký âm. ii. Chỉ còn 4 thanh so với 6 thanh tiếng Viêt. Và iii là một thứ tiếng ngọng xấu xí so với tiếng Việt. Điều này cho thấy “khám phá” của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: “Chữ Đầu của tiếng Việt mượn từ “Tóu” của Hán là trái với thực tế. Cũng như việc ông cho rằng, trong “cơ tầng tiếng Việt có lớp từ Hán cổ” là không có cơ sở! Chính ở đây, vị học giả danh tiếng đã vượt qua các bậc thầy Tây cho rằng “tiếng Việt vay mượn 70% tiếng Hán” bởi với lớp “từ Hán cổ và Hán Việt Việt hóa” ông phát minh thì tỷ lệ vay mượn sẽ là bao nhiêu?! Hơn một lần tôi thưa rằng, không thể nào hiểu nổi, Việt là dân sông nước phải xăm mình để tránh giao long mà không có thuyền, có buồm phải đi mượn chữ “Buồm” của dân chăn cừu chăn dê trên hoang mạc phương Bắc!

Ở Việt Nam, chữ Nho thành quốc ngữ. Những tiếng được viết bằng chữ Nho, được gọi là chữ hay tự. Tiếng không có chữ, được gọi là Nôm. Ông cha ta sáng tạo chữ Nôm nên ghi được mọi tiếng nói. Khi có chữ quốc ngữ Latin, chữ quốc ngữ ghi chép được tất cả tiếng nói nên tiếng Việt giữ được toàn bộ ngôn ngữ của tổ tiên, nhiều hơn tiếng Trung Quốc 30%. Khi sang Việt Nam, thấy trong tiếng Việt có nhiều từ chung với tiếng Hán nhưng do định kiến của quan niệm Hoa tâm nên cho rằng “đó là từ gốc Hán” rồi cả quyết: “tiếng Việt mượm 70% từ ngôn ngữ Hán.” Phán quyết này được đưa vào những cuốn từ điển danh giá nhất cũng như vào sách giáo khoa dạy người Việt.

5. Về danh xưng “người Việt”

Trong sách, ông Trần Trí Dõi không giới định nội hàm danh xưng “người Việt” là việc bất cập vì bản thân danh xưng “người Việt” có vấn đề. Cộng đồng dân cư được gọi là “người Viêt” trong sách của tác giả vốn là người Kinh, chính thức xuất hiện từ thế kỷ XIII, khi triều đình phân biệt dân cư vùng kinh đô, kẻ chợ với dân rừng núi thành Kinh và Trại. Người Kinh đương nhiên nói tiếng Kinh, khác với dân Trại nói tiếng Trại. Sau năm 1954, tiếng Kinh được gọi là tiếng phổ thông, tiếng của đồng bào thiểu số được gọi là tiếng dân tộc. Không biết từ lúc nào, người Kinh được gọi là người Việt và tiếng Kinh được gọi là tiếng Việt. Điều này thoạt nhìn có vẻ tiện dụng nhưng thực ra bất ổn. Trước hết là xúc phạm các sắc tộc thiểu số. Khi người Kinh là người Việt thì họ là ai? Đương nhiên không phải người Việt! Vậy phải chăng họ là ngoại tộc? Đáng tiếc, do bất cập của nhân học nên vẫn dai dẳng tồn tại quan niệm các sắc dân thiểu số là ngoại tộc! Điều này không đúng bởi lẽ di truyền học xác định: từ 4000 năm trước, người Việt Nam thuộc chủng Mongoloid phương Nam, có nghĩa, tất cả người Việt Nam là người Việt. Đây thực sự là vụ án tiếm danh, chuyện không nhỏ mà nhân học phải trả lời! Thiết nghĩ, với nhà ngôn ngữ học, điều này cần được minh định. Và chuyện này nữa, dù đã biết “Việt Nam có 54 sắc tộc” nhưng tiếc là nhà ngôn ngữ học của chúng ta không đứng ra minh định để trả lại sự chính xác khoa học cho ngôn từ mà dễ dãi chấp nhận cách nói sai lầm “Việt Nam có 54 dân tộc” tạo nên một vết nhơ trong học thuật. Việc nữa có lẽ cũng cần thưa lại với vị giáo sư ngôn ngữ học. Trong sách, ông dùng quá nhiều từ “phong kiến.” Xin hỏi Việt Nam có chế độ phong kiến không?  Gần 200 năm trước, trong tình trạng hiểu biết hạn hẹp, Engels cho rằng thế giới là nhất nguyên, phát triển theo cùng một kiểu nên vũ đoán phương Đông cũng trải qua thời kỳ phong kiến như châu Âu. Tuy nhiên, ở phương Đông chế độ phong kiến chỉ có ở thời nhà Chu. Rút kinh nghiệm thể chế phong hầu kiến ấp gây ra loạn lạc, từ nhà Tần trở đi, Trung Quốc xây dựng chế độ quân chủ tập quyền. Các thể chế chính quyền trên đất Việt Nam sinh sau đẻ muộn không có một ngày gọi là “phong kiến.” Hơn ai hết, giáo sư ngôn ngữ học cần chuẩn mực về ngôn từ.

Việc hình thành người Kinh (xin gọi chính xác) tác giả trình bày theo quan niệm chính thống hiện nay với công thức: “Từ hai cộng đồng Chứt, Pọng chuyển hóa thành Việt Mường chung. Việt Mường chung gặp nhóm Tày-Thái cổ tách thành Việt và Mường.” Đó chỉ là suy luận của học giả Viễn Đông Bác cổ dựa trên bằng chứng ngôn ngữ quá mơ hồ nhưng không được khảo cổ học xác nhận và hoàn toàn trái với di truyền học. Năm 1983, trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa khám phá “Vào thời đồ đá, dân cư Việt Nam thuộc loại hình Australoid. Sang thời kim khí, dân cư Việt Nam chuyển sang chủng Mongoloid phương Nam.” (6) Sau này di truyền học xác nhận, do số lượng nhỏ người từ Nam Hoàng Hà đi xuống, tiếp xúc và chuyển hóa di truyền dân cư Việt Nam. Đây không phải sự thay thế dân cư mà là do khi được sinh ra 70.000 năm trước, trong máu huyết người Lạc Việt chủng Indonesian có lượng gen Mongoloid cao. Vì vậy khi được bổ sung gen Mongoloid từ đồng bào phương Bắc về, lượng gen Mongoloid trong lứa con cháu vượt qua ngưỡng của chủng Australoid để trở thành Mongoloid phương Nam. Điều này khiến cho dân cư Việt Nam là một dòng liên tục, không bị ngắt quãng từ 70.000 năm trước. Do vậy mà tiếng nói cũng liên tục, là tiếng Indonesian (Lạc Việt). (7) Cũng không hề có “nhóm Tày-Thái cổ” nào gây được tác động như vậy. Nếu có nhóm Tày-Thái cổ thì cũng là người Lạc Việt, nói tiếng Lạc Việt. Khi đưa ra kịch bàn “gặp Tày-Thái cổ” là học giả Pháp qua người Thái hiện tồn rồi suy đoán thiếu cơ sở. Di truyền học, như hình trên chỉ rõ, xác nhận người Lạc Việt chủng Indonesian chiếm lĩnh Hoa lục, mà nhánh chính là Tày Thái. Sử còn ghi, một người con gái Thái làm vợ Đế Khốc, chắt của Hoàng Đế, sinh ra vua Nghiêu. Do sống trên lưu vực Hoàng Hà, người Thái sớm chuyển sang ngôn ngữ đơn âm hữu thanh. Theo biến động lịch sử, họ nhiều lần trở về Việt Nam. Lứa trở về khoảng 300 năm TCN đã hòa nhập dân cư đầu tiên khai phá đồng bằng sông Hồng, làm nên cộng đồng người Kinh. Lứa trở về vào thời Nguyên thì sống ở Tây Bắc Việt Nam còn đại bộ phận tràn vào Lào, Thái Lan, thành người Thái hôm nay. Trong tiếng nói nhóm Thái này có nhiều từ Hán.

Theo khảo cứu của chúng tôi, cộng đồng người Kinh được hình thành như sau:

Khoảng 300 năm TCN, nước biển rút, phần chủ thể của đồng bằng sông Hồng xuất hiện. Người Việt ở miền Trung ra, từ trung du Bắc Bộ xuống và từ Nam Trung quốc kéo về khai thác đất mới. Do cùng chủng tộc và tiếng nói nên không có mâu thuẫn sắc tộc. Nhờ môi trường thuân lợi, kinh tế phát triển, đời sống được nâng cao nên nhân số tăng nhanh. Trong số người từ Nam Trung Quốc về, có người Tày Thái, người Hẹ, người Choang… những người từng sống cùng hoặc tiếp xúc với dân lưu vực Hoàng Hà nên tiếng nói đã chuyển sang đơn âm, hữu thanh. Tiếng nói mới lạ được lan truyền trong cộng đồng. Thời Bắc thuộc, chữ Nho thành quốc ngữ, tiếng nói đơn âm, hữu thanh trở nên phổ biến. Cùng với sự giao lưu kinh tế và xuất hiện đô thị, một cảnh quan dân cư đô thị hình thành. Cho đến thế kỷ XIII, triều đình chính thức thừa nhận sắc dân mới trên lãnh thổ: người Kinh. Điều này cũng diễn ra tại đồng bằng miền Trung. Từ đó có thể chắc rằng: người Kinh là do những cư dân năng động nhất từ các bộ lạc người Việt tại Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc tiến về khai thác đồng bằng sông Hồng tạo nên. Khi hình thành cảnh quan mới thì một cộng đồng người với nếp sống mới ra đời. Trong khi đó, đồng bào của họ sống trong những bản, mường, phum sóc… vẫn giữ tiếng nói và nếp văn hóa truyền thống, trở thành các tộc người thiểu số.

Đây là kịch bản do chúng tôi đề xuất. Rất mong các học giả và bạn đọc phê bình.

6. Việc định họ cho tiếng Việt

Tiếng Việt cho đến nay đã được xếp lần lượt trải qua bốn họ: Đông Dương, Hán-Tạng, Tày Thái và Nam Á. Câu hỏi được nêu ra: tại sao lại như vậy? Có thể thấy là, hai lần đầu mang tính tập thể, kiểu dồn vịt vào chuồng. Nhưng hai lần sau là suy nghĩ cẩn trọng. H. Máspero nhận ra nhiều từ vựng chung giữa tiếng Thái và tiếng Annam nhưng vì Annam là nước nhỏ, nô lệ, lại vay mượn nhiều từ tiếng Hán nên không đáng để đứng tên một họ ngôn ngữ. Do vậy, ông đặt ra họ Tày-Thái rồi nhét tiếng Annam vào trong rọ. Cảm thấy có lý, nhiều người ủng hộ. Nhưng rồi nhiều năm sau, trong khi thao tác nghề nghiệp, A.G. Haudricourt “ngộ ra”, sẽ phù hợp hơn nếu xếp tiếng Annam vào nhánh Mon-Khmer của họ Nam Á. Ý tưởng cách tân được hưởng ứng! Tại sao lại như vậy? Hơn trăm năm trước, vào năm 1892, Đô đốc Hải quân người Pháp H. Frey đã đã phát hiện: “Tiếng Annam, mẹ đẻ của các ngôn ngữ: cộng đồng gốc của các chủng tộc Celtic, Semitic, Sudan và Indo-Chinese” (L'annamite, mère des langues: communauté d'origine des races celtiques, sémitiques, soudanaises et de l'Indo-Chine). Là mẹ các ngôn ngữ, tiếng Việt phong phú hơn con cháu mình. Do đó tuy có những yếu tố âm tiết và từ vựng chung với nhiều tiếng nói khác nhưng khi đem tiếng Việt nhét vào bất cứ họ ngôn ngữ nào thì cuối cùng cũng bị đẩy ra vì cái khuôn quá hẹp. Ngay cái lồng Nam Á của A.G. Haudricourt nghe có vẻ ngon lành. Nhưng có phải vậy không? Từ khám phá về chủng tộc và ngôn ngữ hôm nay, ta thấy việc gán ghép này cũng giả tạo. Thứ nhất, người Việt là chủ thể của cộng đồng Lạc Việt, cư trú lâu dài trên đất Việt Nam, nơi phát tích của dân cư phương Đông. Trong khi đó, người Munda là một nhánh Lạc Việt di cư sang Ấn Độ 50.000 năm trước. Vì vậy, cũng như dân Tày-Thái hay Mon-Khmer, ngôn ngữ Munda là nhánh con. Khi nhét tiếng Việt vào cái lồng Nam Á không những không phù hợp về ngôn ngữ mà còn kéo lệch trung tâm ngôn ngữ Việt ra ngoài vị trí vốn có của nó là Đông Dương.

Chúng tôi cho rằng, sẽ tới ngày mà ngôn ngữ học phải trở lại với ý tưởng của John Leyden 200 năm trước, xác lập họ ngôn ngữ mà tiếng Viêt là trung tâm, mẹ của phần lớn ngôn ngữ phương Đông. Thay cho họ ngôn ngữ Indo-China, có thể lấy tên là họ ngôn ngữ Indonesian.

III. Kết luận và khuyến nghị

Sang khai hóa phương Đông, học giả phương Tây mang theo vũ khí trí tuệ siêu việt là thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người với da trắng thượng đẳng cùng quan niệm Âu trung: châu Âu là trung tâm của thế giới. Là những nhà Hán học nên họ tin vào thuyết Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của văn minh châu Á. Hơn trăm năm khoa học nhân văn Việt Nam được dựng trên cái kiềng ba chân vững chắc: Người Bắc Kinh Homo pekinensis là tổ tiên dân da vàng châu Á. Từ phía Tây, người Hán xâm nhập miền Trung Hoàng Hà xây dựng văn minh Hoa Hạ. Người Hán mang văn minh Hoa Hạ xuống khai hóa các sắc dân bán khai phương Nam. Đông Nam Á là vùng trũng của lịch sử, dân nơi đây không hề có thiên tư sáng tạo. Đồ đá mài Hòa Bình là từ lưu vực Hoàng Hà đưa xuống. Nghề đúc đồng từ Hallstatt Đông Âu đưa tới lưu vực Hoàng Hà 1000 năm TCN và 500 năm TCN người thợ Trung Quốc truyền xuống Việt Nam. Năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt. Con cháu của Viêt vương Câu Tiễn chạy xuống Bắc Bộ Việt Nam, làm nên dân cư Việt Nam hôm nay. Tiếng Việt vay mượn 70% từ ngôn ngữ Hán…

 Vì vậy, sang thiên niên kỷ mới, khi Thuyết Đa vùng sụp đổ thì cả hai chân kiềng còn lại cũng sụp theo. Như phản ứng dây chuyền, cuốn sách của ông Trần Trí Dõi cùng chung số phận. Trái với kỳ vọng của tác giả, cuốn sách không góp phần tìm hiểu văn hóa mà khiến cho văn hóa Việt càng trở nên u minh.

Điều vui mừng là trên đống hoang tàn của khoa học nhân văn cũ, khám phá vĩ đại của lịch sử được khai mở. Việt Nam là nơi phát tích của nhân loại ngoài châu Phi. Trong quá khứ xa xăm, người Việt Nam ra đi mở mang thế giới, đem máu huyết, tiếng nói và văn hóa làm nên các dân tộc châu Á, châu Âu, châu Mỹ. Trên đất Đông Á, người Việt sáng tạo nền Minh triết Việt Nho rực rỡ mà do thời cơ chưa đến, còn trầm tích trong lòng đất lòng người. Nếu biết khai mở, nền khoa học nhân văn thực sự của phương Đông sẽ tỏa ánh sáng Minh triết dẫn đường nhân loại trong kỷ nguyên mới. Công việc trước mắt của trí thức Việt là đoạn tuyệt với khoa học nhân văn sai lầm của quá khứ, rèn luyện bản lĩnh để phục hưng trí tuệ Việt, viết lại lịch sử Việt, tìm lại đạo Việt, tạo dựng nguồn lực Việt và đào tạo nhân lực Việt.

                                                                                                                                                                                                                                                                                                Sài Gòn, 9. 2022

 Reference

1.      George van Driem The Diversity of the Tibeto-Burman Language Family and the Linguistic Ancestry of Chinese  file:///C:/Users/ADMIN/Downloads/The_diversity_of_the_Tibeto_Burman_langu%20(2).pdf

2.      GS. Trần Quốc Vượng nói về văn hóa VN - BBC Vietnamesehttps://www.bbc.com › 2005/03 › interviewweek112005

3.      J.Y. Chu et al. Genetic relationship of populations in China. ( https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC21714/

4.      Chuan-Chao Wang and Hui Li. Inferring human history in East Asia from Y chromosomes. (file:///C:/Users/ADMIN/Downloads/Inferring_human_history_in_East_Asia_fro.pdf)

5.      Hà Văn Thùy. Tiếng Trung Quốc là biến thể suy thoái của tiếng Việt. (https://thuyhavan.blogspot.com/search?q=Ti%E1%BA%BFng+Trung+Qu%E1%BB%91c+m%E1%BB%99t+bi%E1%BA%BFn+th%E1%BB%83+suy+tho%C3%A1i+c%E1%BB%A7a+ti%E1%BA%BFng+Vi%E1%BB%87t)

6.      Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. DH&THCN. H,1983.

7.      Hà Văn Thùy. Tiền sử người Việt. NXB Hồng Đức. H, 2022.

TRẢ LỜI CÂU HỎI: VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KHÔNG BỊ ĐỒNG HÓA? Trao đổi với ông Nguyễn Hải Hoành


   Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số ra ngày 7 tháng 9 năm 2015 đăng bài Tại sao Việt Nam không bị đồng hóa sau 1.000 năm Bắc thuộc? của ông Nguyễn Hải Hoành. (http://nghiencuuquocte.net/2015/09/07/viet-nam-khong-bi-dong-hoa-1000-nam-bac-thuoc/). Trong bài viết hơn 5000 chữ, tác giả cho rằng: “Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.”
  Đó là cách nhìn rất sai về con người và văn hóa phương Đông. Một cách nhìn giản đơn, hời hợt trong khi thực tế lịch sử phức tạp và sâu xa hơn nhiều.
Lâu nay, chúng ta nói quen miệng: văn hóa Trung Hoa,  tiếng nói Trung Hoa, chữ viết Trung Hoa… nhưng thực sự chưa ai biết người Trung Hoa là ai? Vì vậy những chuyện về Tiếng nói Trung Hoa, chữ viết Trung Hoa, văn hóa Trung Hoa… thiên hạ bàn bao nhiêu cũng hầu như là nói mò, tán dóc! Không thể trách ông Nguyễn Hải Hoành cùng các học giả Việt Nam vì cho tới nay chính người Trung Hoa cũng không trả lời được những câu hỏi trên!
  Trong tiểu luận này, tôi xin trình bày cách nhìn khác, bằng con mắt của thế kỷ mới.
 I. Nguồn gốc người Trung Hoa
   70.000 năm trước, hai đại chủng Homo sapiens là Australoid và Mongoloid từ châu Phi, theo ven biển Ấn Độ tới Việt Nam. Tại đây, họ hòa huyết với nhau rồi con cháu họ hòa huyết tiếp trong nhiều vạn năm, cho ra hai chủng người Việt cổ Indonesian (Lạc Việt) và Melanesian. Trong quá trình hòa huyết, họ cũng hòa hợp về tiếng nói. Chủng Lạc Việt (Indonesian) là đa số, giữ vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Sau đó, người từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục rồi vượt eo Bering sang chinh phục châu Mỹ. Khoảng 4000 năm TCN,  người Việt sống khắp Hoa lục và xây dựng ở đây nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ. Khoảng 3300 năm TCN, tổ tiên ta lập nhà nước đầu tiên với vị vua huyền thoại Thần Nông ở kinh đô Lương Chử vùng Thái Hồ. Khoảng năm 2879 TCN, nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương ra đời. (1)
   Năm 2698 TCN, người Mông Cổ du mục xâm lăng đất của người Việt ở Nam Hoàng Hà, dựng vương triều Hoàng Đế. Do số người ít, văn hóa chưa phát triển, người Mông Cổ học nghề nông cùng tiếng nói của người Việt. Tiếng Việt bị nói trại theo giọng Mông Cổ và trong vai trò thống trị, người Mông Cổ áp đặt xã hội nói theo cách nói Mông Cổ (Mongol parlance) mà ngày nay ta gọi là “nói ngược” phụ trước chính sau: tôi đi trước -> tôi trước đi; Thịt gà -> gà thịt… Trong quá trình sinh sống, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ. Sau mấy đời, người Mông Cổ thuần chủng không còn, người Hoa Hạ thay cha ông, thiết lập các triều đại từ Nghiêu, Thuấn tới nhà Chu. Cả thời kỳ lịch sử dài, người Hoa Hạ chỉ chiếm giữ phần nhỏ đất Hoa lục. Ở phần đất còn tự do rộng mênh mông, người Việt thành lập những tiểu quốc, luôn chống lại kẻ xâm lăng. Tuy nhiên, do nắm vai trò chính thống, người Hoa Hạ coi các tộc người Việt bản địa là man di còn mình là cội nguồn của dân tộc Trung Hoa. Cuối thời Chu, nhà Tần gồm những bộ tộc Tây Nhung người Việt, diệt lục quốc, nắm quyền lãnh đạo. Do mất vai trò thống trị, người Hoa Hạ mất vị trí tầng lớp tinh hoa, hòa tan trong cộng đồng Việt đông đảo. Hạng Võ rồi Lưu Bang, là người Việt nước Sở diệt nhà Tần, lập nhà Hán. Vương quyền vào tay người Việt. Nhưng do vang bóng của Hoa Hạ trong quá khứ nên nhà Hán cũng tự nhận là Hoa Hạ!
 Như vậy, tổ tiên người Trung Hoa là người Lạc Việt từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục từ 40.000 năm trước. Trong quá trình sống trên lưu vực Hoàng Hà, người Việt hòa huyết với người Mông Cổ, sinh ra người Việt hiện đại, chủng Mongoloid phương Nam, mà người Hoa Hạ là một bộ phận. Sau cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, người Việt Mongoloid phương Nam lan tỏa xuống phía Nam và Đông Nam Á, làm chuyển hóa di truyền hầu hết dân cư Đông Nam Á sang chủng Mongoloid phương Nam như hiện nay. (2)

II.      Tiếng nói và chữ viết Trung Hoa.

1.      Về nguồn gốc của tiếng nói Trung Hoa
  Khi di cư, người tiền sử mang theo tiếng nói của mình từ quê mẹ châu Phi tới Việt Nam. Tại đây, cùng với hòa hợp máu huyết cũng diễn ra hòa hợp ngôn ngữ giữa các tộc người. Tiếng Lạc Việt Indonesian thành chủ thể của tiếng nói cộng đồng. Cố nhiên, tiếng nói không đồng nhất bởi lẽ, ngoài tiếng Lạc Việt được dùng như tiếng “phổ thông” thì mỗi nhóm có tiếng nói riêng. Do vị trí địa lý, khu vực miền Trung là nơi mà tổ tiên chúng ta định cư sớm nhất (bằng chứng là các di chỉ Núi Đọ, hang Con Moong). Vì vậy, ngôn ngữ vùng này là ngôn ngữ gốc của người Việt. Người di cư đưa tiếng Việt tới Quảng Đông, Phúc Kiến rồi chiếm lĩnh toàn bộ Hoa lục. Do sống tại những môi trường địa lý cùng sự tiếp xúc dân cư khác nhau, tiếng nói bị phân ly, ngày càng xa nhau tới mức không hiểu được nhau. Vì vậy, thời nhà Chu đã cho tiếng phương Nam là Nhã ngữ, có nghĩa là thứ tiếng nói thanh nhã và khuyến khích dân chúng dùng Nhã ngữ. (3) Ngày nhỏ nghe các cụ truyền ngôn: “Hoa Việt đồng văn đồng chủng” quả tình tôi không thể nào hiểu nổi. Nhưng từ khám phá hôm nay thấy cha ông ta vô cùng sáng suốt!       

2. Về chữ viết Trung Hoa

Truyền thuyết Trung Hoa nói rằng Hoàng Đế sai Thương Hiệt làm ra chữ. Nhưng trên thực tế, nhà Hạ chưa có chữ và hơn nửa thời Thương, người Hoa Hạ cũng chưa có chữ. Trong khi đó, trên vùng cư trú của người việt, chữ tượng hình được sáng tạo từ rất lâu rồi. Khảo cổ học khám phá, 9000 năm trước ký tự tượng hình đã xuất hiện ở văn hóa Giả Hồ. Cuối năm 2011 phát hiện “phù tự” (chữ dùng cho bùa chú, tế tự) khắc trên đá tại di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây 4000 – 6000 năm trước. Chữ khắc trên giáp cốt cũng tìm thấy ở văn hóa Lương Chử hơn 3000 năm TCN. Từ những phát hiện chữ viết sớm (trước khi người Hoa Hạ ra đời) trên vùng đất cư trú của người Việt, cho thấy, chữ tượng hình Giáp cốt văn là do người Việt sáng tạo. Từ Cảm Tang, chữ được đưa lên Hà Nam vùng Trong Nguồn, là trung tâm kinh tế văn hóa lớn của người Việt. Chữ được cải tiến và được dùng làm công cụ ghi chép. Khoảng 1300 năm TCN, vua Bàn Canh chiếm đất An Dương của người Việt, lập triều Ân. Chính ở đây người Hoa Hạ gặp Giáp cốt văn. Thấy giá trị lớn của chữ giáp cốt, nhà Ân đã đưa chữ của người Việt lên bước phát triển cao. Tiếp đó nhà Chu chuyển từ văn khắc trên yếm rùa, xương thú thành chữ viết trên lụa, trên thẻ tre, khắc trên đồ đồng. Nhà Tần, một quốc gia người Việt, làm cuộc cách mạng chuẩn hóa văn tự, đưa chữ tượng hình có diện mạo như ngày nay. (2)
Chữ tượng hình được chế ra để ghi âm tiếng Việt là sự thật không chỉ thể hiện ở nguồn gốc của nó mà còn được lưu giữ trong Thuyết văn giải tự, cuốn từ điển đầu tiên do Hứa Thận người thời Hán viết. Dù văn bản hiện nay có nhiều thay đổi do các đời sau cải sửa nhưng gốc của nó là cuốn sách ghi lại cách đọc chữ vuông bằng tiếng Việt.
 Ta thử xét đến chữ Bàn trong sách này:
: 獸足謂之番。从釆;田,象其掌。附袁切    
Phiên: Thú túc vị chi phiên. Tùng thể; điền, tượng kỳ chưởng. Phù viên thiết. (Phiên: Chân thú gọi là phiên, viết theo thể; theo điền, như là chưởng.)
Phần trên được dịch theo quan niệm của đa số hiện nay. “Phù viên thiết” cũng là do đời sau thêm vào mà phiên âm như vậy, chứ thật ra thì đoạn văn trên phải dịch là “Bàn: thú túc vị chi bàn, tùng thể; điền, tượng kỳ chưởng.” Tiền thân của chữ Phiên ở thời Hán, vào lúc ông Hứa Thận còn sống thì đọc là Bàn. Bàn: chân thú gọi là bàn (bàn chân), viết theo bẻ (thể) và đàn (điền), tựa cái bàn (tay, chân)... (Đỗ Ngọc Thành – Đi tìm nguồn gốc chữ Nôm. Nhannamphi.com)
Vì vậy, nếu truy tới cùng thì mọi chữ vuông chỉ khi đọc bằng tiếng Việt và giải nghĩa bằng nghĩa tiếng Việt mới chính xác. Thí dụ câu Lang bạt kỳ hồ/tái trí kỳ vĩ trong kinh Thi, được Chu Hy giảng: “Hồ là cái yếm ở cổ con sói khi già thì thòng xuống nên con vật bước tới dẵm phải yếm, bước lui đạp phải đuôi. Câu thơ chỉ tình trạng tiến thoái lưỡng nan.” Rõ ràng là vô lý vì không bao giờ con sói có yếm ở cổ! Ngay những loài có yếm như bò hay lạc đà thì cũng không bào giờ yếm chùng đến nỗi con vật dẫm phải! Thực ra, “hồ” vốn là hố, hang trong tiếng Việt của người làm ra kinh Thi với ý nghĩa: “sói trốn vào hang/ vẫn lòi cái đuôi”, mô tả tình trạng giấu đầu hở đuôi của con sói để lên án đám quý tộc che giấu cuộc sống ăn trên ngồi trốc của mình. “Hố” của tiếng Việt được đưa vào kinh ở thời Chu nhưng sau đó, người thời Tống không còn hiểu tiếng Việt nữa nên chuyển thành “Hồ” và biến nghĩa thành cái yếm của con sói! (4)

3. Khi sang Việt Nam,  người Hán nói tiếng gì?

Với nhiều người thì đó là câu hỏi lẩm cẩm, bởi lẽ cố nhiên, người Hán phải nói tiếng Hán. Nhưng tiếng Hán là tiếng gì? Chỉ mới đây, tôi mới khám phá ra: khi sang việt Nam người Hán nói tiếng Việt! Tổ tiên người Hán vốn là người Việt. Do thời gian đi xa, không gian cũng xa và hoàn cảnh lịch sử bắt phải “nói ngược” nhưng “hương âm vô cải” nên những thế kỷ đầu Công nguyên, người Hán vẫn nói tiếng Việt! Không có gì lạ, khi một người Bana hôm nay sang Indonesia, liền nghe và nói được tiếng địa phương. Người Trung Quốc đã thực hành một cuộc chơi: mời cặp nam nữ người Thái Lan sang giao lưu với thanh niên Choang. Người Thái cứ nói tiếng Thái, người Choang cứ nói tiếng Choang mà hiểu được nhau! Như vậy, ít nhất trong 400 năm đưới thời nhà Hán, quan lính Hán sang Việt Nam nói tiếng Việt. Chữ Hán được đọc bằng tiếng Việt. Một chứng cứ cho chuyện này là bức thư của Hứa Tịnh, một người phương Bắc di cư xuống làm quan với Lưu Bị, viết trả lời Tào Tháo: “đã đi từ Hội Kế (Cối Kê - Hàn Châu ngày nay), qua Giao Châu, Đông Âu, Mân Việt, cả vạn dặm mà không thấy đất Hán.”
(从会稽南至交州,经历东瓯、闽越之国,行经万里,不见汉地” – Từ Hội Kế nam chí Giao Châu, kinh lịch Đông Âu, Mân Việt chi quốc, hành kinh vạn lý, bất kiến Hán địa.) Như vậy, tuy 400 năm thuộc nhà Hán nhưng vùng Giang Nam vẫn hoàn toàn là Việt: người Việt, phong tục Việt và tiếng nói Việt” (2)
Chỉ sau thời Hán, do loạn Ngũ Hồ, nhiều tộc du mục vào chiếm đất Trung Hoa, đưa tiếng nói của họ vào, khiến cho tiếng nói ở Trung Nguyên thay đổi. Thời này, việc học chữ Hán và giao tiếp với người phương Bắc trở nên khó khăn hơn.

4. Sự ra đời của Đường âm

Sau thời gian tao loạn dài, nhà Đường xác lập địa vị thống trị. Lúc này tiếng nói Trung Nguyên cũng rối loạn, mỗi nơi nói một khác khiến cho người trong nước không hiểu được nhau. Chính quyền phải dùng tiếng nói của kinh đô Tràng An làm ngôn ngữ giao tiếp trong triều đình. Buộc quan lại các tỉnh nhập kinh phải nói tiếng kinh đô. Dân gian gọi là quan thoại. Sau này được gọi là Đường âm. Kinh đô Tràng An là đất từ xa xưa của người Lạc Việt. Là trung tâm văn hóa của quốc gia văn minh bậc nhất trong lịch sử Trung Hoa, Tràng An tập trung đông đảo trí thức nên tiếng nói chịu ảnh hưởng nhiều của chữ viết: bớt phần nôm, nặng phần chữ. Đường âm truyền sang Việt Nam, được cha ông ta gọi là chữ Nho hay chữ của thánh hiền. Sau 1954 được gọi là từ Hán Việt. Theo tôi cách gọi này không đúng bởi lẽ xuất phát từ suy nghĩ sai lầm: “chữ của Hán còn cách đọc của Việt nên gọi là từ Hán Việt.” Kỳ thực Đường âm là tiếng nói của người Việt sống ở Tràng An, do hoàn cảnh lịch sử riêng mà được hình thành vào thời nhà Đường. Ông Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Hán Việt là tiếng nói của kinh đô Tràng An thời nhà Đường được đem sang dạy ở Việt Nam.” Thực ra, phần được đưa sang Việt Nam chỉ là những tiếng nói được ký tự. Trong thực tế, tiếng nói thì nhiều nhưng chữ chế ra lại ít. Mặc dù dùng giải pháp từ đồng âm nhưng cũng còn rất nhiều tiếng không được ký tự, chỉ được truyền khẩu trong dân gian. Tại Trung Nguyên, những tiếng không được ký âm dần dần bị mai một. Tình hình cũng giống ở miền Giang Nam hiện nay, người ta thống kê được khoảng 20% tiếng nói không được ghi thành chữ mà chỉ được truyền miệng trong dân gian. Với thời gian, những tiếng nói dân dã này rồi sẽ biến mất! Trong khi đó, ở Việt Nam cha ông chúng ta khắc phục hạn chế của chữ Nho bằng cách làm ra chữ Nôm, bổ sung vào vốn văn tự khối lượng lớn chữ viết, để ký tự được tất cả tiếng nói của cộng đồng. Nhờ vậy mà sáng tạo được những áng văn chương tuyệt tác. Sau này, chữ quốc ngữ ký âm được cả chữ Nho, cả tiếng nói dân dã. Nhờ đó tiếng nói của người Việt Nam càng phong phú, giầu có hơn và càng xứng đáng là mẹ các ngữ (mère des langues) như H. Frey tuyên bố. (3)
  Như vậy: toàn bộ hệ thống cách đọc Đường âm được mang từ Tràng An sang mà hoàn toàn không phải sản phẩm sáng tạo của người Việt Nam! Lẽ đương nhiên, việc người Việt không bị đồng hóa không liên quan gì tới từ Hán Việt!

III. Vì sao người Việt không bị đồng hóa?

Về chuyện này có thể viết cả một cuốn sách nhưng theo tôi, có ba lý do cốt lõi:
-     
      Về mặt di truyền học: Người Việt Nam có chỉ số đa dạng di truyền cao nhất trong các sắc dân châu Á. Điều này đã đươc nhà di truyền S.W. Ballinger công bố từ 1992. Độ đa dạng di truyền chỉ có thể chuyển từ cao xuống thấp. Khi sinh ra con, cha mẹ san sẻ một phần “độ đậm đặc nòi giống” của mình cho đứa trẻ nên dòng huyết thống càng xa càng nhạt. Trong khi đó, con cháu không bao giờ lội ngược dòng trở lại “độ đậm đặc nòi giống” như cha ông. Có thể ví, dân tộc Việt Nam là một biển nước mặn mà mỗi người Hán xuống Việt Nam là một thùng nước lợ. Những thùng nước lợ hòa vào biển mặn không những không thể làm biển nhạt đi mà, cái thùng nước lợ bị mặn theo!
-      
       Về tiếng nói:
 Việt Nam là nơi phát tích của dân cư Trung Hoa nên tiếng Việt là ngôn ngữ gốc với những đặc điểm: vốn từ phong phú, đa thanh, giọng nói sáng rõ và nhất là được nói theo trật tự chính trước phụ sau. Người từ Trung Hoa trở về Việt Nam – nói chính xác là trở về đất tổ - mang về ngôn ngữ bị pha trộn, biến dạng và nhất là cách nói ngược. Cố nhiên, người Việt không thích thú thứ tiếng nói như vậy để mà học!
-       
      Về hoàn cảnh lịch sử:
Lịch sử đã tạo ra ở Việt Nam cộng đồng làng xã vô cùng vững chắc, hữu hiệu chống lại sự xâm nhập từ bên ngoài, ngay cả người khác xã. Người Hán hầu như không có cơ hội nhập tịch làng Việt Nam. Họ chỉ có thể tới sống nơi kẻ chợ,  hành nghề làm thuê hay buôn bán và được gọi bằng danh xưng: thằng Ngô, chú Khách. Mặt khác, dù âm mưu đồng hóa là kiên trì và thâm độc nhưng do sức phản kháng kiên cường của người Việt, nên nhiều viên quan buộc phải ngó lơ những yêu cầu khắt khe của triều đình, cốt sao thu được thuế và giữ được ổn định. Một đặc điểm khác là, do bên trong Trung Quốc luôn xảy ra bạo loạn, đảo chính nên sự thống trị nhiều khi bị buông lỏng. Những lúc như vậy, tinh thần Việt được phục hưng. Một điều nữa phải nói là may mắn: suốt trong nhiều thế kỷ người Hán nói tiếng Việt rồi để lại Đường âm, một thành tựu tuyệt vời về ngữ âm. Nhưng ngay sau đó, nước ta giành lại quyền tự chủ, thoát khỏi ách đô hộ. Ta dùng Đường âm như một quốc bảo làm quốc ngữ mãi tới sau này. Trong khi đó, Trung Quốc luôn loạn lạc, các tộc người phương Bắc xâm chiếm, thống trị khiến tiếng nói biến đổi theo. Đường âm biến mất khỏi Trung Quốc. Do là nước độc lập, chúng ta không buộc phải học những thứ quan thoại của phương Bắc. Vì vậy giữ được tiếng nói của mình.

                                                                             
                                                       Trung Thu 2015

Ghi thêm:
Tôi gửi bài viết cho tạp chí Nghiên cứu quốc tế và nhận được thư trả lời của Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp:
"Kính chào anh Hà Văn Thùy,

Sau khi đọc kỹ và cân nhắc, chúng tôi nhận thấy một số luận điểm, tuyên bố của anh trong bài còn gây nhiều tranh cãi và cần thời gian để xác thực thêm về mặt chứng cứ khoa học, nên tạm thời chúng tôi chưa thể đăng bài này của anh, mong anh thông cảm.

Cám ơn anh và kính chúc anh sức khỏe!

LH Hiệp"

Tài liệu tham khảo:
1.   Hà Văn Thùy. Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt. NXB Văn học, 2006
2.   Hà Văn Thùy. Viết lại lịch sử Trung Hoa.                   http://www.amazon.com/Viet-Lai-Lich-Trung-Vietnamese/dp/1500462675/ref=sr_1_1?s=books&ie=UTF8&qid=1407022568&sr=1-1&keywords=ha+van+thuy
3.   Hà Văn Thùy. Tiến trình lịch sử văn hóa Việt   http://www.amazon.com/Tien-Trinh-Lich-Vietnamese-Edition/dp/1502407043/ref=pd_sim_b_1?ie=UTF8&refRID=0166EHCRB7JE84435N41
4.   Hà Văn Thùy. Tìm bản gốc câu kinh Thi Lang bạt kỳ hồ http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/tim-ban-goc-cua-bai-kinh-thi-lang-bat.html


TRẢ LỜI CÂU HỎI: AI SÁNG CHẾ RA CHỮ HÁN?

  

Người bạn từ Cali gửi cho bài viết của Nguyễn Hải Hoành đăng trên Nghiên cứu quốc tế: “AI SÁNG CHẾ RA CHỮ HÁN” cùng đề nghị giúp làm rõ chuyện này. Thấy vấn đề đặt ra thực sự nghiêm túc nên cũng xin trả lời nghiêm túc đáp lại nguyện vọng của người bạn cùng đông đảo bạn đọc. Tuy nhiên, thuật ngữ “chữ Hán” là có vấn đề nên trong suốt bài này tôi dùng từ thỏa đáng hơn: chữ Nho!

Trong những yếu tố cấu thành nhận thức của con người, ngoài những tri giác trực tiếp còn bị/được chi phối bởi vô thức xuất hiện trong tâm hồn/tâm linh không những của từng người mà còn là của dân tộc qua tâm thức cộng đồng. Ý tưởng chữ Nho do tổ tiên người Hàn sáng tạo không phải là chuyện ngẫu hứng một sớm một chiều của mấy ông học “giả”! Tôi tin rằng nó tồn tại từ ngàn xưa và luôn thôi thúc con tim người Hàn qua thế hệ này sang thế hệ khác, trong phức cảm tìm lại cội nguồn. Nhưng cho đến cuối thế kỷ XX là điều bất khả vì chưa đủ dữ kiện xác thực điều gì. Mọi tranh luận sẽ không có hồi kết. Nhưng đến nay, khi khoa học đã lùa tay tới tận đáy lịch sử nhân loại thì việc tìm ra chủ nhân chữ Nho trở nên đơn giản!

Trong bài này, tôi sẽ làm rõ bốn vấn đề sau:

1.         Người Trung Quốc, người Hàn, người Nhật, người Việt là ai?

2.         Chữ Nho được hình thành ra sao?  

3.         Ngôn ngữ phương Đông được hình thành như thế nào?

4.          Giá trị và vai trò của chữ Nho trong tương lai.

1. Người Trung Quốc, người Hàn, người Nhật, người Việt là ai?

Đến hôm nay khoa học khẳng định, 40.000 năm trước, người Hòa Bình Việt Nam đi tới Điền Nguyên Động, Chu Khẩu Điếm, là người hiện đại sớm nhất có mặt ở Bắc Trung Quốc. Mang trong mình mã gen O3M122, Cụ Điền Nguyên (tôi xin gọi Cụ như vậy) thuộc người Lạc Việt chủng Indonesian, là tổ tiên trực tiếp của người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đồng thời là thủy tổ người bản địa châu Mỹ. Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy, Cụ Điền Nguyên chỉ là lớp tiền trạm báo cáo với Trời đất là người từ Việt Nam đã tới đây làm chủ đất này. Lúc đó đang thời băng hà, các cụ chỉ có công cụ vi đá microblades nên sổng rất gian truân. Tuy nhiên, con cháu cụ đã chiếm lĩnh vùng Hoa Bắc, Siberia, châu Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản. Đó là thành tựu vĩ đại của tiền nhân.

Cuộc sống chỉ trở nên sôi động khoảng 10.000 năm trước, sau khi Kỷ Băng hà kết thúc, mùa Xuân tới với loài người. Lúc này người Việt từ Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tây mang giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó và lợn lên xây dưng nông nghiệp tại Giả Hồ, Hà Mẫu Độ, vùng Đông Bắc Trung Quốc và Ngưỡng Thiều Cao nguyên Hoàng Thổ. 7000 năm trước, tại làng Bán Pha tỉnh Thiểm Tây thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều, cùng trồng kê, người Việt cổ con cháu cụ Điền Nguyên gặp gỡ hòa huyết với người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid – cũng từ Việt Nam lên đây 34.000 năm trước), sinh ra chủng người Mông Cổ phương Nam ( South Mongoloid), được gọi là người Việt hiện đại. Xây dựng được nền nông nghiêp phát triển, thức ăn dồi dào, Người Việt hiện đại tăng nhân số, trở thành dân cư chủ thể của lưu vực Hoàng Hà với hai trung tâm kinh tế lớn là Trong Nguồn (đồng bằng Hán Thủy – Trung Nguyên sau này) và Thái Sơn vùng Sơn Đông. Khoảng 6500 năm trước, bộ đôi cụ tổ đầu tiên (có tên) của tộc Việt là Phục Hy-Nữ Oa ra đời, hoàn thành việc chế tác Kinh Dịch. Khoảng 5300 năm trước vị tổ thứ hai của tộc Việt là Thần Nông xuất hiện. Từ vùng đất ngày nay là Hồ Bắc, Cụ đi xuống Thái Hồ Hàng Châu Chiết Giang xây dựng kinh đô Lương Chử của nhà nước vĩ đại đầu tiên ở phương Đông. Sử sách không biết đến tên của nhà nước này nên thường gọi là nhà nước Lương Chử. Nay có thể gọi là nhà nước Thần Nông với kinh đô Lương Chử.


Sự phân bố dân cư trên đất Đông Á.

Haplogroup C = Melanesian strain

Haplogroup D = Negritos strain

Halogroup N = Mongoloid strain

Halogruop O = Indonesian strain (người Lạc Việt)

 Khoảng năm 2879 TCN, trên địa bàn nhà nước cũ của Tổ Thần Nông lưu vực Dương Tử, Kinh Dương Vương xây dựng nhà nước Xích Quỷ. Trong khi đó, anh ông là Đế Lai trị vì nửa nhà nước Thần Nông trên lưu vực Hoàng Hà. Thời kỳ này những bộ lạc du mục Mông Cổ trên bờ Bắc Hoàng Hà luôn đánh cướp dân Việt phía Nam. Năm 2698 TCN, tổng tấn công vào Trác Lộc, người du mục do họ Hiên Viên dẫn đầu, đánh bại Đế Du Võng, chiếm miền Trung Hoàng Hà, lập nhà nước Hoàng Đế. Người Việt vùng Sơn Đông kiên cường chống lại Hoàng Đế, xây dựng những nhà nước hoặc bộ tộc độc lập. Trong đó có các nước Di Việt, Quỷ Phương… trên đất Hà Nam, chống lại triều đình Hoa Hạ cho tới thời Thương. Các nhà nước Hoàng Đế từ Nghiêu, Thuấn, Vũ luôn lấn chiếm đất của dân Sơn Đông và gọi một cách kinh miệt là Đông Di. Cuối đời Thương, nhà Chu liên kết các tiểu quốc này thành liên minh 800 “nước” đánh thắng nhà Thương, lập vương triều phong kiến Chu. Các tiểu quốc “Đông Di” sáp nhập Trung Quốc.

Đấy là bối cảnh lịch sử Hoa lục cho đến đầu Công nguyên. Muốn hiểu rõ bức tranh lịch sử này, cần nhìn ra những mảng màu tạo nên bức tranh là những quốc gia và cộng đồng dân tộc từng làm chủ đất đai trong quá khứ. Trước cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, toàn bộ Hoa lục là giang sơn của người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam, do người Lạc Việt lãnh đạo. Sau cuộc xâm lăng của họ Hiên Viên, dân cư phương Đông bị tách làm hai: Nhà nước Hoàng Đế bao gồm một bộ phận nhỏ người Mông Cổ chiến thắng cộng với số đông người Việt bị chiếm đóng. Lúc đầu người Việt kháng cự mãnh liệt nhưng sau đó nhờ cai trị khôn khéo, Hoàng Đề thu phục được dân Việt.  Người Việt và người Mông sống thuận hòa. Do người Việt quá đông, nên khoảng nửa thế kỷ sau, người Mông Cổ bị đồng hóa. Trong vương triều toàn là người Việt, được cai trị bởi người Hoa Hạ, là lớp con lai Mông Việt ra đời sau cuộc xâm lăng. Với thói quen “ăn cây nào rào cây ấy,” người Việt trong nhà nước Hoàng Đế cũng hãnh diện nhận mình là “Hoa Hạ” và theo vương triều, gọi đồng bào xung quanh là tứ di. Người vùng Sơn Đông được gọi là Đông Di.

Sau sự cố Trác Lộc, một bộ phận người Việt ở Trong Nguồn và Thái Sơn chạy xuống Nam Dương Tử rồi đi tiếp xuống Việt Nam. Đây là cuộc tỵ nạn chiến tranh nên người di cư chủ yếu là nam giới. Người di cư mang nguồn gen Mongoloid hòa huyết với người Việt cổ Australoid, hậu duệ của Tổ tiên ra đời 70.000 năm trước, sinh ra người Việt Nam hiện đại Mongoloid phương Nam. Từ 2000 năm TCN, toàn bộ dân cư Việt Nam là chủng Mongoloid phương Nam. Do hình thành như vậy nên người Việt Nam có đa dạng sinh học cao nhất châu Á. Người Việt cổ là thủy tổ dân cư châu Á và phần lớn nhân loại ngoài châu Phi.

Về người Hàn và người Nhật. Từ 30.000 năm trước, con cháu Cụ Điền Nguyên đã có mặt trên đất Hàn và Nhật, xây dựng nền văn hóa cổ. Tại Nhật là văn hóa Jomon. Nhưng khoảng 300 năm TCN, do sức ép của chiến tranh, hàng triệu người Đông Di (lúc này thuộc địa phận nước Ngô cũ) chạy sang Hàn Quốc rồi từ đây sang Nhật, làm nên dân cư và văn hóa hiện đại của hai quốc gia này. Ở Nhật là văn hóa Jayoi. Cũng phải kể đến cuộc di cư của người Altaic, Eskimos, Tungusic… từ Đông Siberia tới làm nên dân cư đa dạng của Hàn và Nhật. Tổ tiên xa của người Hàn và Nhật là Cụ Điền Nguyên, mã gen Australoid. Do vậy, tổ tiên trực tiếp của người Hàn và Nhật là người Việt sinh ra ở làng Bán Pha 7000 năm trước. Có thể nói thêm rằng, do xuất thân như thế nên người Hàn gần về di truyền với người Việt Nam hơn, như nhiều khảo sát gen đã chỉ ra.

Người Trung Quốc được hình thành ra sao? Sau năm 2698 TCN, với nhà nước Hoàng Đế được thành lập thì cái gọi là “người Hoa Hạ” của thiên triều Hoàng Đế ra đời, tồn tại tới thời Tần, được gọi là Trung Quốc, là trung tâm thiên hạ, phân biệt với Tứ di xung quanh. Người Trung Quốc tự nhận là Hoa Hạ, là Viêm Hoàng tử tôn – có nghĩa là con cháu của Thần Nông và Hoàng Đế! Có hai chuyện nảy sinh ở đây: Thần Nông sống khoảng 3200 năm TCN nên không thể vượt 600 năm về cùng Hoàng Đế năm 2698 TCN để sinh ra người Trung Quốc! Thứ hai: nếu là “Viêm Hoàng Tử tôn,” thì người Trung Quốc chỉ ra đời sau năm 2698 TCN, tới nay mới có 4698 tuổi, trẻ nhất trong dân cư Đông Á!

2.Chữ Nho được hình thành ra sao?

Trong bài của mình, tác giả Nguyễn Hải Hoành nhắc lại truyền thuyết Thương Hiệt làm ra chữ, lại còn khẳng định tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Hán, mặc nhiên biến ông thành “nhà thông thái” với kiến thức quá dat! Khoa học ngày nay đã chứng minh, những mầm mống đầu tiên của chữ vuông xuất hiện trên đá Sa Pa 10.000 năm trước. 9000 năm trước được đưa lên Giả Hồ với 11 ký tự: Nhật, Hỏa, Mục, Bát, 20... Khảo cổ học tìm được ở di chỉ văn hóa Hòa Bình 8000 năm hai đĩa gốm khắc chữ Thượng và chữ Sỹ. 6000 năm trước, chữ Giáp cốt xuất hiện trên xẻng đá Cảm Tang Quảng Tây, trên gốm Bán Pha Thiểm Tây. 5000 năm trước xuất hiện trên ngọc Lương Chử. Quan sát chữ Giáp cốt, tôi nhận ra rằng: bên cạnh những chữ rất “cổ quái” thách đố người đọc lại có những chữ rất hiện đại, như các chữ ở Giả Hồ, trên đĩa gốm Hòa Bình. Ngay trên một búa ngọc Lương Chử phát hiện ở Quảng Ninh, có 16 chữ thì dốt như tôi cũng đọc được dễ dàng chữ Lý, Qua, Dịch, Kim, Thị, 里,戈,易,金,是.Điều này hé lộ sự thật rằng, khi chế chữ, tổ tiên có lúc “gặp may” đã thể hiện chuẩn mực nhất cái ý cần thể hiện vào một ký tự nên nhận được con chữ hiện đại bền vững với thời gian, giống như những chữ trên giáp cốt văn hóa Giả Hồ.



                                                    Búa ngọc Lương Chử tìm được ở Quảng Ninh

Miên man suy nghĩ rồi tôi nhận ra rằng, tổ tiên ta cùng lúc làm hai việc là tìm Dịch lý và tạo chữ viết. Ban đầu có thể những nhóm khác nhau thực hành độc lập. Nhưng khi có thành tựu, các vị đã hợp tác để cùng làm. Lúc này chữ được chế không còn là tùy tiện, ngẫu nhiên nữa mà được chỉ đạo thuận theo Dịch lý với Âm Dương, Ngũ Hành nên chữ ngày càng có cấu trúc chặt chẽ và mang ý nghĩa triết lý. Hòa thượng Viên Như là người phân tích rất kỹ Dịch lý trong chữ viết, đã có những khám phá thú vị. Điều đáng suy nghĩ là tốc độ làm chữ của các cụ quá chậm. Suốt 5000 năm từ Giả Hồ đến Lương Chử mà chữ vẫn chỉ được dùng cho cúng tế, bói toán! Do vậy, 200 năm (1500 -1300 năm TCN) của nhà Ân là bước nhảy vĩ đại. Tôi cho rằng, khi chiếm đất An Dương của người Việt, nhà Ân có con mắt tinh đời nhận ra giá trị lớn lao của chữ viết nên tận dụng những “vẽ sư” người Việt, chế tác thật nhiều chữ rồi sử dụng rộng rãi trong nhân sự, hành chính, địa dư, lịch sử… Nhờ thế, văn tự xuất hiện lần đầu trong lịch sử phương Đông. Nói công bằng, làm chữ là một quá trình kiên trì gần 10.000 năm của cộng đồng Việt tộc mà người Việt thuộc triều Ân Thương có công đặc biệt lớn, đã hoàn thiện công việc gian nan kéo dài.

Người Việt Nam trước đây không cạnh tranh bản quyền chữ Nho với người Hán bởi chưa có căn cứ lịch sử. Chỉ thấy chữ từ khi Triệu Đà mang xuống nên vội vàng học, trân quý gọi là chữ Thánh hiền! Nhưng nay thì chuyện đã khác: Tổ tiên người Việt Nam không chỉ là thủy tổ dân cư Trung Quốc mà còn là người khởi đầu sáng chế chữ Nho.

Với người Hàn, được sinh ra cùng mọi dòng Việt hiện đại khác trên lưu vực Hoàng Hà 7000 năm trước và xây dựng quê hương Sơn Đông. Khi Hoàng Đế chiếm đất Trong Nguồn thì người Sơn Đông vẫn bán trụ trên đất của mình dưới ngọn cờ của anh hùng Si Vưu, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Một trong những công việc của dân vùng Sơn Đông là hoàn thiện chữ Giáp cốt để bói toán và thờ cúng trời đất Tổ tiên. Cố nhiên không khỏi đau xót khi bị đồng bào chèn ép xúc phạm gọi là Đông Di. Vào thế kỷ XV TCN, người Đông Di chống trả việc Bàn Canh chiếm đất An Dương lập nhà Ân đồng thời chứng kiến việc chữ vuông được hoàn thiện, đưa vào cuộc sống. Người Đông Di cũng tham gia vào việc hoàn thiện chữ vuông, cũng là người sử dụng chữ vuông từ rất sớm như thành quả đáng tự hào của tổ tiên. Thế kỷ III TCN bị chiến tranh dồn ép sang bán đảo Cao Ly dựng nước mới, người Đông Di thành người Triều Tiên, mang theo chữ vuông, vẫn không quên công đức của Tổ tiên mình, trong đó có việc chế tạo chữ vuông. Vì vậy hôm nay học giả Hàn Quốc nhận bản quyền sáng chế chữ Nho cho Tổ tiên là hoàn toàn chính đáng. Nhưng suy cho cùng, sáng tạo chữ vuông là công lao của tổ tiên người Việt trên đất Đông Á.

3.Ngôn ngữ phương Đông được hình thành như thế nào?

Sống hơn 200.000 năm trên đất tổ châu Phi, con người đã trưởng thành về giải phẫu và tiếng nói. Vì vậy khi tới Việt Nam, sinh ra người Việt thì tiếng nói của người Việt cổ đã trưởng thành. Trong 30.000 năm sống tại Việt Nam (70.000 – 40.000), người Việt cổ phát triển mạnh nông nghiệp trồng rau củ quả, đảm bảo nguồn dinh dưỡng dồi dào, góp phần tăng nhân số. Trong lao động lâu dài, người Việt bổ sung thêm nhiều tiếng nói gọi tên cây trồng, vật nuôi và hoạt động xã hội. Vì vậy người Việt sáng tạo vốn từ vựng phong phú để mang lên Hoa lục. Như mọi ngôn ngữ sinh ra từ châu Phi, tiếng Việt cũng đa âm vô thanh. Nhưng từ khi chữ vuông ra đời, có chuyển biến lớn. Chữ vuông là chữ đơn lập: mỗi chữ chỉ ghi được một âm. Do vậy, những tiếng đa âm muốn được ghi thành chữ, buộc phải bỏ bớt phụ âm đầu hay phụ âm cuối, biến thành đơn âm. Thí dụ blời -> lời -> trời -> thiên; Kron -> sông -> rồng … Một khi tiếng đã đơn âm thì dễ được chuyển nghĩa bằng cách đọc nhẹ hay nặng để thành chữ khác nghĩa. Thí dụ: Thanh -> Thành -> Thánh -> Thạnh… Cuối cùng, tiếng Việt trở thành thứ tiếng đơn âm với sáu thanh điệu. Tuy nhiên, có sự thực là, tiếng nói thì nhiều trong khi số lượng chữ làm ra lại quá ít. Dù có dùng lục thư để tạo chữ thì vẫn rất nhiều tiếng không được ghi lại. Những tiếng này theo thời gian bị rơi rụng. Có thống kê cho thấy, tại Trung Nguyên, có tới 30% tiếng bị mất. Ở Nam Dương Tử, do độc tôn quan thoại và chữ vuông nên đến nay có khoảng gần 20% tiếng bị mất. Do đó tiếng Trung Quốc bỏ mất 30% tiếng của tổ tiên Việt tộc.

Trong khi đó, tại Việt Nam, tiếng nói của người tại chỗ kết hợp tiếng nói của nhiều lớp người từ phía bắc trở về nên vô cùng phong phú, được gọi là Nôm và Chữ. Từ thời Trần đã tạo ra chữ Nôm để ghi lại mọi lời nói của dân gian nên tiếng nói được bảo lưu và sử dụng nhuần nhụy. Chữ quốc ngữ ra đời, do ghi được cả chữ Nôm và âm Nho nên mọi tiếng nói của người Việt đều được ghi chép và bảo tồn. Nhờ vậy tiếng Việt là ngôn ngữ phong phú giầu có nhất ở phương Đông. Cuối thế kỷ XIX, từ Tây Phi sang công tác ở Đông Dương, Đô đốc người Pháp Henri Frey đã nhận ra điều này rồi viết thành sách Tiếng Annam là mẹ các tiếng nói (L'annamite mère des langues.) Cho rằng tiếng Việt mượn 70% từ ngôn ngữ Hán là sai lầm chết người của học giả phương Tây. Do không biết nguồn gốc tiếng nói Đông Á nên khi thấy trong tiếng Việt có tới 70% số chữ giống với chữ Hán, họ theo quan điểm “dĩ Hoa vi trung,” cho rằng Việt mượn từ Hán. Sự thực, như tôi đã chứng minh: tiếng Trung Quốc là phiên bản suy thoái của tiếng Việt.

4.Giá trị và vai trò của chữ Nho trong tương lai.

Tất cả thế giới dùng chữ biểu âm: chữ chỉ giữ vai trò là ký hiệu của sự vật, hiên tượng. Trong khi đó chữ Nho là thứ chữ duy nhất biểu ý. Được chế tác dưới sự chi phối của Dịch lý nên chữ Nho là văn tự mang trong bản thân nó những ý nghĩa, triết lý sâu sắc. Có câu cách ngôn: “Tư duy nào, ngôn ngữ ấy” cho thấy chỉ khi tư duy bằng chữ Nho và phát biểu bằng chữ Nho mới đạt tới chiều sâu nhất của tư tưởng. Thao tác với chữ Nho giúp bộ não khai mở, sáng tạo những điều kỳ diệu.

Viêt Nam bị người Trung Quốc đô hộ 1000 năm. Đó là họa lớn. Nhưng trong họa có phúc đó là có chữ Nho từ sớm để xây dựng văn hiến. Hầu hết người Việt nghĩ rằng, chữ Nho là do người Hán mang tới để thống trị, nô dịch dân ta. Do thiếu thông tin nên không hiểu rằng, chữ Nho là văn tự do tổ tiên ta sáng chế, từ Việt Nam đưa lên, được hoàn thiện tại Nam Hoàng Hà. Sau đó được truyền về cho chúng ta. Nếu không có phần Nho trong lời ăn, tiếng nói thì văn hóa của chúng ta sẽ rất nôm na! Việc bãi bỏ chữ Nho là họa lớn. Hơn 200 năm trước, một học giả nước ngoài có nói, đại ý: “Chúng ta cho người An Nam thứ chữ dễ học, dễ nhớ, giúp họ tiếp thu nhanh văn minh thế giới. Nhưng rồi sau này con cháu họ sẽ trách là chúng ta đã ngăn cách họ với tổ tiên.” Câu nói đó đã thành sự thật. Phải nói rằng, cùng với nhiều nguyên nhân khác, việc bỏ chữ Nho góp phần làm cho chúng ta trở thành dân tộc thiểu năng trí tuệ.

Về phần người Hàn. Nói tiếng Hàn thuộc hệ ngữ Altaic cũng chưa phải. Sở dĩ có quan niệm như vậy là do, có số lượng nhỏ người Altaic từ Đông Nam Siberia xâm nhập Triều Tiên, đã pha tiếng nói của họ vào ngôn ngữ Hàn. Là người Đông Di nên tiếng Hàn là tiếng Việt. Cũng như tiếng Việt Nam, trong tiếng Hàn có phần “Nôm” là tiếng nói của dân gian và phần “chữ” là Nho. Nhưng vì nóng vội thoát Trung nên người Hàn bãi bỏ chữ Nho. Bỏ chữ Nho là chối bỏ phần lớn kho tàng ngôn ngữ của tổ tiên, lại là phần giá trị nhất. Những tiếng “Nôm” được ghi bằng chữ Hangul không thể đạt được chiều sâu tư tưởng. Do vậy, tiếng Hàn giữ được hồn dân nhưng lại thiếu sự sâu sắc của bộ não. Nay người Hàn tỉnh ngộ khôi phục chữ Nho là điều mừng.

Trong ba nước Đông Á ngoài Trung Quốc thì người Nhật đã xử lý tuyệt vời quan hệ giữa chữ Nho, Hiragana và Katakana. Từ đó họ sáng tạo ra văn bản cùng lúc chứa hai loại chữ, bổ sung cho nhau tạo nên tiếng nói đồng điệu. Mặt khác, họ bắt buộc học trò mỗi cấp phải thuộc một số chữ Nho nên con cháu không bị mù trước chữ nghĩa của tổ tiên. Vì vậy, trăm năm nay con cháu của Nữ thần Thái Dương bước vững chắc trên đôi chân DÂN TỘC-HIỆN ĐẠI. Người Hàn chắc sẽ theo đường này!

                                                                                                                  Sài Gòn, Xuân Nhâm Dần