TIẾNG TRUNG QUỐC, MỘT BIẾN THỂ SUY THOÁI CỦA TIẾNG VIỆT
TỪ CUỐN LỊCH SỬ NGÔN NGỮ NGƯỜI VIỆT CỦA GIÁO SƯ TRẦN TRÍ DÕI
In khổ lớn, dầy dặn, bìa cứng trang trọng, cuốn sách thật đáng nể. Đáng nể hơn là lý lịch khoa học với danh mục cả trăm công trình của tác giả. Xuất hiện ở Viễn Đông nhưng cuốn sách không cô đơn mà nằm trong dòng chảy 200 năm của Ngôn ngữ học thế giới…
I. Móng nền sụp đổ
Thế kỷ XIX mở ra bình minh cho khoa học nhân văn. Để khám
phá thế giới, nhà nhà nô nức đi tìm nguồn gốc loài người và các chủng tộc. Khảo
cổ học ra đời làm xuất hiện khoa nhân học đo sọ. Các học giả và thày tu đi khắp
nơi để khám phá: châu Phi là quê hương của người da đen. Châu Âu sinh ra người
da trắng còn người da vàng xuất hiện ở châu Á. Thuyết nguồn gốc châu Phi (Out
of Africa hypothesis) bị lép vế trong khi Thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người
(Multiregional hypothesis) nổi lên chi phối khoa học nhân văn. Trong xu hướng
đi tìm nguồn cội, do nhận thức rằng tiếng nói liên quan mật thiết với di truyền
nên Ngôn ngữ học tách ra một nhánh được gọi là ngôn ngữ học so sánh (sau này là
Ngôn ngữ học lịch sử) để ngõ hầu thông qua tiếng nói tìm ra quan hệ phát sinh của
các chủng người…
Năm 1806, tiếng Annam,
Trung Quốc cùng nhiều ngôn ngữ phương Đông được John Caspar Leyden, một bác sĩ
và nhà thơ trẻ người Scotland đưa vào họ ngôn ngữ Đông Dương (Indo-china). Họ
ngôn ngữ bao gồm tất cả các tiếng nói “của các khu vực nằm giữa Ấn Độ và Trung
Quốc, và phần lớn cư dân trên đảo ở biển phía đông”, mặc dù “không giống nhau”,
nhưng “thể hiện cùng một nguồn gốc hỗn hợp”. (1)
Thuyết của
Leyden được công nhận rộng rãi suốt thế kỷ nhưng rồi sau đó bị phê bình. Năm
1924, nhà ngữ học Ba Lan Przyluski thay bằng họ ngôn ngữ Hán-Tạng (Sino-Tibetan).
Sau thời gian tranh chấp giữa Hán-Tạng, Tạng-Miến đến nay George van Driem đề
nghị thay bằng họ ngôn ngữ Xuyên Himalaya (Trans-himalaya). Tiếng Việt ban đầu
được xếp vào họ Đông Dương, sau đó chuyển sang Hán Tạng. Đến năm 2012 học giả
người Pháp H. Maspero xếp vào gia đình Tày-Thái trong sự chấp nhận rộng rãi của
giới học giả. Ngồi yên ổn được hai chục năm, tới 1954 A.G. Haudricourt chuyển
sang nhánh Mon-Khmer của họ Nam Á cũng trong sự tán đồng nồng nhiệt. Trong sách
của mình, giáo sư Trần Trí Dõi bỏ thêm một phiếu ủng hộ cho nghị quyết được
thông qua gần trăm năm trước.
Thoát thai từ nền học thuật Viễn Đông Bác cổ, nhân học của
nước Việt Nam dựa trên thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người. Là học trò chăm
ngoan, học giả Việt Nam hết mực hiếu đễ với các bậc thầy Tây của mình. Năm
2005, trong một bài phản bác Tiến sỹ Marc Oxenham của Đại học Quốc gia Úc, Giáo
sư Trần Quốc Vượng dõng dạc tuyên bố: “Việt Nam ủng hộ thuyết Đa vùng của nguồn
gốc loài người.” (2)
Thật không may, do thiếu cập nhật thông tin, vị danh sư của
Sử học Việt Nam đương đại không biết rằng gần chục năm trước, Thuyết Đa vùng đã
chết lâm sàng!
II. Xác lập khoa học nhân văn mới
Đó là vào ngày 29 tháng Chín năm 1998, J.Y. Chu và đồng nghiệp
Đại học Texas của ông công bố bài báo Quan hệ di truyền của dân cư Trung Quốc
(Genetic relationship of populations in China) gây chấn động: “Người hiện đại
Homo sapiens xuất hiện đầu tiên ở châu Phi 180.000 năm trước. 60.000 năm trước,
theo ven biển Ấn Độ, người châu Phi di cư tới Việt Nam. 50.000 năm trước, người
từ Việt Nam đi ra các đảo Đông Nam Á, Nam Thái Bình Dương và châu Úc. Một bộ phận
về phía Tây chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, người từ Việt Nam chinh phục
Hoa lục rồi lên Siberia, qua eo Bering chiếm đóng châu Mỹ…” (3) Với bằng chứng nặng ký này, Thuyết Nguồn gốc châu
Phi được khẳng định và cố nhiên, Thuyết Đa vùng bị bác bỏ.
Nền khoa học nhân văn Việt Nam dựa trên Thuyết Đa vùng sụp đổ.
Sự thất bại còn thê thảm hơn, khi nhiều năm trước, Giáo sư Trần Quốc Vượng chủ
xị của cổ sử Việt Nam dõng dạc tuyên bố: “Với phương pháp này, các nhà nghiên cứu
kết luận rằng tất cả các con người hiện đại đều sinh ra từ một tổ tiên chung ở
châu Phi trong khoảng 200.000 năm trước. Tuy nhiên tư liệu hóa thạch người dường
như lại không hoàn toàn ủng hộ cho quan điểm một trung tâm phát sinh người duy
nhất này.” (Lịch sử Việt Nam.Nxb Giáo dục. H, 2012. T 1, trang 22) Lời xác quyết
của bậc danh sư đóng lại con đường dẫn khoa học nhân văn Việt Nam kết nối với khoa
học hiện đại.
Khám phá của nhóm J.Y. Chu cùng những phát hiện di truyền và khảo cổ học thập niên đầu thế kỷ mới đã dẫn tới việc viết lại lịch sử Việt Nam và phương Đông. Từ năm 2004, khi nhận được tài liệu của Y.J. Chu, chúng tôi đã bỏ mọi công việc văn chương, tập trung tìm về nguồn cội. Trong gần 20 năm đã cho in những cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (Văn học, 2006); Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn học, 2008); Tìm cội nguồn qua di truyền học (Văn học, 2011); Viết lại lịch sử Trung Hoa (SG Cali, phát hành trên amazon); Tiến trình lịch sử văn hóa Việt (SG Cali, phát hành trên amazon); Rewriting Chinese history (Nhân Ảnh, phát hành trên amazon); The formation process of the origin and culture of the Viet people (Nhân Ảnh, phát hành trên amazon); Out of Vietnam explore in the World (Nhân Ảnh, phát hành trên amazon); Tiền sử người Việt (NXB Hồng Đức) …
Những cuốn sách trình
bày nội dung cơ bản sau:
70.000 năm trước, theo ven biển Ấn Độ, hai đại chủng
Australoid và Mongoloid từ châu Phi tới Việt Nam. Tại đây, họ gặp gỡ hòa huyết
sinh ra bốn chủng người Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Negrito
và Mongoloid trong đó chủng đa số Indonesian giữ vai trò lãnh đạo xã hội và
ngôn ngữ. 50.000 năm trước, người Việt cổ di cư ra các đảo Đông Nam Á, Nam Thái
Bình Dương, châu Úc, chiếm lĩnh Ấn Độ. 40.000 năm trước, ba chủng Indonesian,
Melanesian, Negrito từ Việt Nam đi lên khai phá Hoa lục, xây dựng ở đây nền
nông nghiệp phát triển. Trong khi đó, người Mongoloid theo hành lang Ba Thục đi
lên đất Mông Cổ phía Bắc Hoàng Hà, ban đầu săn bắn hái lượm sau đó huyển sang
du mục. Do giữ được nguồn gen thuần nên được gọi là người Mông Cổ phương
Bắc (North Mongoloid). Khoảng 7000 năm trước, khi mang kê lên trồng ở
Cao nguyên Hoàng Thổ, người Việt nông nghiệp gặp và hòa huyết với người Mông Cổ
du mục, sinh ra chủng người Mongoloid phương Nam, được gọi là người Việt hiện đại.
Người Việt hiện đại tăng nhân số, trở thành chủ thể của dân cư lưu vực Hoàng Hà
với hai trung tâm Trong Nguồn và Thái Sơn. Khoảng 5300 năm trước, tại vùng cửa
sông Chiết Giang, người Việt lập nhà nước đầu tiên ở phương Đông với kinh đô
Lương Chử. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ du mục đánh chiếm miền Trung Hoàng Hà, lập
nhà nước Hoàng Đế. Tị nạn chiến tranh, một bộ phận người Việt từ Thái Sơn,
Trong Nguồn chạy xuống Nam Dương Tử rồi theo thời gian đi tới Việt Nam. Người di
cư mang gen Mongoloid chuyển hóa di truyền người bản địa Nam Trung Quốc và Việt
Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Khoảng 4000 năm trước, toàn bộ dân cư Việt
Nam cùng một chủng Mongoloid phương Nam.
Như vậy, dân cư Việt Nam được hình thành theo hai giai đoạn:
70.000 năm trước, là người Việt cổ mã di truyền Australoid. 40.000 năm trước,
người Việt cổ đi lên khai phá Hoa lục. Tiếng nói và văn hóa của người Việt trở
thành văn hóa và tiếng nói của dân cư Hoa lục, sau này là Trung Quốc. Tại Nam
Hoàng Hà, 7000 năm trước, người Việt hiện đại chủng Mongoloid phương Nam ra đời.
2500 năm TCN, người Việt hiện đại từ lưu vực Hoàng Hà di cư về Việt Nam, chuyển
hóa di truyền dân cư Việt Nam sang chủng Mongoloid phương Nam. Trong quá trình
lịch sử sau này, người từ lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử tiếp tục trở về Việt
Nam, đem văn minh phương Bắc bổ sung cho văn hóa Việt Nam. Nếu ví văn hóa Đông
Á như một đại thụ thì gốc sâu rễ bền mọc trên đất Việt Nam còn cành lá sum suê
và hoa thơm trái ngọt nảy nở trên lưu vực Dương Tử và Hoàng Hà.
Từ bãi đá Sa Pa, khoảng 10.000 năm trước, người Việt vạch ra
những ký tự tượng hình đầu tiên. Sau đó ở Cảm Tang Quảng Tây ông cha ta chế ra
chữ khắc trên đá, yếm rùa và xương thú, gọi là Giáp cốt văn. Giáp cốt văn xuất hiện ở nhiều nơi khác trên
đất Trung Quốc. Khoảng năm 1400 đến 1200 TCN, tại Ân Khư kinh đô nhà Ân ở Hà
Nam, chữ Giáp cốt được phát triển thành chữ Nho, đưa Trung Quốc vào thời có sử.
Những dòng ngắn gọn trên cho thấy:
1.Việt Nam là đất phát tích của người châu Á. Dân cư châu Á
được hình thành theo hai thời kỳ. Thời kỳ đầu mang mã di truyền Australoid, thời
ký sau thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Người Việt nam và người Trung Quốc
cùng cội nguồn và văn hóa.
2. Người Việt cổ di cư làm nên dân cư Đông Nam Á cũng như
dân cư Trung Quốc. Rời Việt Nam 50.000 năm trước, dân cư Đông Nam Á và Nam Thái
Bình Dương, “một đi không trở lại,” hầu như không có sự liên hệ với đất tổ.
Trong khi đó, người lưu vực Hoàng Hà lại gắn bó máu thịt cũng như lịch sử văn
hóa với Việt Nam. Không chỉ mang nguồn gen Mongoloid về chuyển hóa dân cư Việt
Nam sang chủng Mongoloid phương Nam, người vùng Núi Thái-Trong Nguồn còn đem
văn minh sông Hoàng Hà về góp phần xây dựng văn hóa Việt. Từ đó cho thấy, khác
với quan niệm hiện có trong sách ông Trần Tria Dõi, tuy nằm trong khu vực địa
lý Đông Nam Á nhưng Việt Nam gắn bó mật thiết về lịch sử và văn hóa với Đông Á.
3. Về việc hình thành ngôn ngữ đơn âm hữu thanh.
Sau khoảng 200.000
năm sống trên đất châu Phi, con người đã trưởng thành về giải phẫu và tiếng
nói. Có nghĩa là bộ não và tiếng nói đã phát triển. Do đó, tiếng nói của tổ
tiên ta dã trưởng thành. Trong bốn chủng người Việt cổ được sinh ra tại Việt
Nam thì chủng Indonesian (sau này gọi là Lạc Việt, Haplogroup O) là đa số, giữ
vai trò lãnh đạo về xã hội và ngôn ngữ. Trên hình 1, phần d, Haplogroup O (Lạc
Việt) chiếm phần lớn diện tích châu Á. Vì vậy, tiếng Lạc Việt là ngôn ngữ chủ
thể của châu Á bên cạnh nhiều ngôn ngữ con khác.
Chữ tượng hình khắc trên Giáp cốt xuất hiện từ 9000 năm trước
nhưng thời gian dài chỉ được dùng cho bói toán và cúng tế. Năm 1400 TCN, khi
nhà Thương chiếm đất An Dương của người Việt, bắt gặp ở đây Giáp cốt văn. Với sự
năng động của chính quyền quân chủ mạnh, vua Bàn Canh quyết định cho sản xuất
thật nhiều chữ Giáp cốt dùng trong hành chính, lịch sử, địa dư…
Hình phân bố dân cư theo
nhiễm sắc thể Y (4)
Tiếng Việt, như mọi tiếng châu Phi khác, thuộc dạng đa âm,
vô thanh. Trong khi đó, chữ vuông là chữ đơn lập, mỗi chữ chỉ ký âm được một tiếng.
Vì vậy, muốn được ký âm, chữ buộc phải bỏ đi âm đầu hoặc âm cuối. Thí dụ blời à
trời, thiên; Krong à
sông, long, rồng… Mặc nhiên, tiếng nói thành đơn âm. Một khi đơn âm, thì đọc nhẹ
hay đọc nặng, chữ thành âm khác và mang nghĩa khác, thí dụ: Thanh à Thành à Thánh à thảnh à Thạnh… Qua quá trình
hoạt động, tiếng Việt hình thành sáu thanh.
Do thực tế là tiếng nói nhiều mà chữ làm ra ít nên dù áp dụng
hết cách thì cũng có một số tiếng không được ký âm, tức là không có chữ, bị loại
khỏi văn bản, chỉ được truyền miệng. Ở lưu vực Hoàng Hà, những tiếng như vậy dần
bị rơi rụng. Người ta thống kê có khoảng 30% tiếng không được ký âm nên biến mất.
Kết quả là tiếng nói phía Bắc Trung Quốc chỉ còn 70% so với tiếng của tổ tiên
Việt.
Tới thời Hán, dân tại lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử vẫn nói
tiếng Việt. Cuốn Thuyết văn giải tự xuất hiện cuối thời Hán được coi là từ điển
đầu tiên của Trung Quốc. Nhưng thực chất, đó là cuốn từ điển tiếng Việt bởi
sách dạy cách đọc và giải nghĩa tiếng Việt. Trên thực tế mọi chữ Nho chỉ khi đọc
bằng âm Việt và giải nghĩa theo nghĩa Việt mới chính xác.
Ví dụ:
- Chữ 夏, tiếng Hoa ngày nay đọc là
“Xia”. Thuyết văn ghi: 夏: 中 國之人也. 從 夊從頁從,兩手. 夊,兩足也. 胡雅切 (Hạ: Trung Quốc chi nhân dã. Tùng xuôi tùng hiệt
tùng cúc. Cúc, lưỡng thủ. Xuôi, lưỡng túc dã. Hồ nhã thiết.) Nghĩa là: Hạ 夏: người Trung Quốc
vậy. Viết theo 夊 xuôi theo 頁 hiệt theo cúc. Cúc, hai tay
(cúc: khép, chắp 2 tay). Xuôi, hai chân vậy. Đọc là Hạ.
Một đoạn ngắn nêu trên khi tra chữ Hạ 夏 cho
thấy thời cổ đại cho đến triều Hán thì chữ 夏 của tiếng Hoa, đọc
là “Hạ”. Như vậy rõ ràng là dùng âm “Xia” khi tra Thuyết văn là không
thích hợp. “Hồ nhã” không bao giờ phiên âm ra thành “Xia”. Đọc theo tiếng
quan thoại thì “胡雅 (Hủa + yã)” không thể nào đánh vần ra “Xia” theo
cách “phản và thiết”.
- Chữ Bôn
譒 也。从言番聲。 “商書” 曰:“王譒告之.” 補過切
Boa dã. Tùng ngôn
bàn thanh. (Thương thư) viết: “Vương bôn cáo chi”. Bổ qua thiết, là “
Bổ-ua=bua”.
Bua (Bổ qua thiết là phiên âm của đời sau). Nguyên văn
của Thuyết văn là (ngôn bàn thanh) 言番聲. = Bôn.
Bây giờ người ta đọc chữ Bôn (bua) 譒 là
“Phiên” hay “Phồn”. Đọc là “phồn” thì còn hợp với Thuyết văn đã ghi
là “ngôn, bàn thanh”. Bôn hay Phôn hay Phồn giống nhau, chỉ là đọc
giọng nặng nhẹ khác nhau theo từng miền. Người ta đọc 譒 phiên
theo âm chữ ghép bên phải là “phiên 番”;
cách đọc “phồn 譒” là vì ghép vần 番 phiên
và 言
ngôn. Nhưng thời xưa lại đọc chữ 番 phiên là “bàn 番”.
Hai dẫn chứng trên cho thấy, tiếng Trung Quốc thời Hán là tiếng
Việt.
Sau thời Hán, Trung
Quốc loạn lạc, nhiều triệu người phương Bắc du nhập, tiếng nói bị pha tạp, dẫn
tới các vùng không hiểu được nhau. Do vậy triều đình quy định, các quan địa
phương khi lâm triều phải nói tiếng của kinh đô. Tiếng kinh đô là tiếng của
quan lại. Từ đó quan thoại ra đời. Quan thoại thời Đường là tiếng nói của kinh
đô Tràng An, gọi là Đường âm, là ngôn ngữ chuẩn mực với đủ sáu thanh. Quan thoại
thời Đường được đưa tới dạy ở Việt Nam, là chữ Nho và được lưu giữ tới nay.
Sau thời Đường Trung
Quốc càng loạn lạc, người Nguyên rồi người Thanh vào làm chủ Trung Hoa. Là dân
ngoại tộc, họ không nói được chính xác tiếng Trung Quốc mà nói ngọng như âm đ
nói thành t, ng nói thành h… Người nói ngọng là quan quân triều đình, tập trung
ở Bắc Kinh. Tiếng Bắc Kinh trở thành quan thoại. Trước đây, tiếng nói kinh đô
là tiếng nói chuẩn mực, là nhã ngữ. Nhưng nay tiếng nói của Bắc Kinh ngọng nhất
nhưng do sự thống trị của kẻ ngọng nên trở thành tiêu chuẩn và quan thoại mandarin
– Mãn đại nhân, ra đời. Đó là chuyện khôi hài, là nỗi đau trong lịch sử Trung
Quốc!
Chữ 頭. Thuyết văn giải tự nói: 頭 Đầu là 首thủ! 度侯切- độ
hầu thiết: đọc là đầu.
Nhưng tới thời Thanh,
do người Thanh đọc trại Đ thành T nên “Đầu” đưa vào Khang Hy tự điển thành “Tóu”.
Như vậy, đúng như
chúng tôi phát hiện, tiếng Trung Quốc là biến thể suy thoái của tiếng Việt (5).
Suy thoái trên ba phương diện: i. Nghèo đi vì mất 30% tiếng không được ký âm. ii.
Chỉ còn 4 thanh so với 6 thanh tiếng Viêt. Và iii là một thứ tiếng ngọng xấu xí
so với tiếng Việt. Điều này cho thấy “khám phá” của Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn: “Chữ
Đầu của tiếng Việt mượn từ “Tóu” của Hán là trái với thực tế. Cũng như việc ông
cho rằng, trong “cơ tầng tiếng Việt có lớp từ Hán cổ” là không có cơ sở! Chính ở
đây, vị học giả danh tiếng đã vượt qua các bậc thầy Tây cho rằng “tiếng Việt
vay mượn 70% tiếng Hán” bởi với lớp “từ Hán cổ và Hán Việt Việt hóa” ông phát
minh thì tỷ lệ vay mượn sẽ là bao nhiêu?! Hơn một lần tôi thưa rằng, không thể
nào hiểu nổi, Việt là dân sông nước phải xăm mình để tránh giao long mà không
có thuyền, có buồm phải đi mượn chữ “Buồm” của dân chăn cừu chăn dê trên hoang
mạc phương Bắc!
Ở Việt Nam, chữ Nho thành quốc ngữ. Những tiếng được viết bằng
chữ Nho, được gọi là chữ hay tự. Tiếng không có chữ, được gọi là Nôm. Ông cha
ta sáng tạo chữ Nôm nên ghi được mọi tiếng nói. Khi có chữ quốc ngữ Latin, chữ
quốc ngữ ghi chép được tất cả tiếng nói nên tiếng Việt giữ được toàn bộ ngôn ngữ
của tổ tiên, nhiều hơn tiếng Trung Quốc 30%. Khi sang Việt Nam, thấy trong tiếng
Việt có nhiều từ chung với tiếng Hán nhưng do định kiến của quan niệm Hoa tâm
nên cho rằng “đó là từ gốc Hán” rồi cả quyết: “tiếng Việt mượm 70% từ ngôn ngữ
Hán.” Phán quyết này được đưa vào những cuốn từ điển danh giá nhất cũng như vào
sách giáo khoa dạy người Việt.
5. Về danh xưng “người Việt”
Trong sách, ông Trần Trí Dõi không giới định nội hàm danh
xưng “người Việt” là việc bất cập vì bản thân danh xưng “người Việt” có vấn đề.
Cộng đồng dân cư được gọi là “người Viêt” trong sách của tác giả vốn là người
Kinh, chính thức xuất hiện từ thế kỷ XIII, khi triều đình phân biệt dân cư vùng
kinh đô, kẻ chợ với dân rừng núi thành Kinh và Trại. Người Kinh đương nhiên nói
tiếng Kinh, khác với dân Trại nói tiếng Trại. Sau năm 1954, tiếng Kinh được gọi
là tiếng phổ thông, tiếng của đồng bào thiểu số được gọi là tiếng dân tộc. Không
biết từ lúc nào, người Kinh được gọi là người Việt và tiếng Kinh được gọi là tiếng
Việt. Điều này thoạt nhìn có vẻ tiện dụng nhưng thực ra bất ổn. Trước hết là
xúc phạm các sắc tộc thiểu số. Khi người Kinh là người Việt thì họ là ai? Đương
nhiên không phải người Việt! Vậy phải chăng họ là ngoại tộc? Đáng tiếc, do bất
cập của nhân học nên vẫn dai dẳng tồn tại quan niệm các sắc dân thiểu số là ngoại
tộc! Điều này không đúng bởi lẽ di truyền học xác định: từ 4000 năm trước, người
Việt Nam thuộc chủng Mongoloid phương Nam, có nghĩa, tất cả người Việt Nam là
người Việt. Đây thực sự là vụ án tiếm danh, chuyện không nhỏ mà nhân học phải
trả lời! Thiết nghĩ, với nhà ngôn ngữ học, điều này cần được minh định. Và chuyện
này nữa, dù đã biết “Việt Nam có 54 sắc tộc” nhưng tiếc là nhà ngôn ngữ học của
chúng ta không đứng ra minh định để trả lại sự chính xác khoa học cho ngôn từ
mà dễ dãi chấp nhận cách nói sai lầm “Việt Nam có 54 dân tộc” tạo nên một vết
nhơ trong học thuật. Việc nữa có lẽ cũng cần thưa lại với vị giáo sư ngôn ngữ học.
Trong sách, ông dùng quá nhiều từ “phong kiến.” Xin hỏi Việt Nam có chế độ
phong kiến không? Gần 200 năm trước,
trong tình trạng hiểu biết hạn hẹp, Engels cho rằng thế giới là nhất nguyên,
phát triển theo cùng một kiểu nên vũ đoán phương Đông cũng trải qua thời kỳ
phong kiến như châu Âu. Tuy nhiên, ở phương Đông chế độ phong kiến chỉ có ở thời
nhà Chu. Rút kinh nghiệm thể chế phong hầu kiến ấp gây ra loạn lạc, từ nhà Tần
trở đi, Trung Quốc xây dựng chế độ quân chủ tập quyền. Các thể chế chính quyền trên
đất Việt Nam sinh sau đẻ muộn không có một ngày gọi là “phong kiến.” Hơn ai hết,
giáo sư ngôn ngữ học cần chuẩn mực về ngôn từ.
Việc hình thành người Kinh (xin gọi chính xác) tác giả trình
bày theo quan niệm chính thống hiện nay với công thức: “Từ hai cộng đồng Chứt,
Pọng chuyển hóa thành Việt Mường chung. Việt Mường chung gặp nhóm Tày-Thái cổ
tách thành Việt và Mường.” Đó chỉ là suy luận của học giả Viễn Đông Bác cổ dựa
trên bằng chứng ngôn ngữ quá mơ hồ nhưng không được khảo cổ học xác nhận và
hoàn toàn trái với di truyền học. Năm 1983, trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam
Á, Giáo sư Nguyễn Đình Khoa khám phá “Vào thời đồ đá, dân cư Việt Nam thuộc loại
hình Australoid. Sang thời kim khí, dân cư Việt Nam chuyển sang chủng Mongoloid
phương Nam.” (6) Sau này di truyền học xác nhận, do số lượng nhỏ người từ Nam
Hoàng Hà đi xuống, tiếp xúc và chuyển hóa di truyền dân cư Việt Nam. Đây không
phải sự thay thế dân cư mà là do khi được sinh ra 70.000 năm trước, trong máu
huyết người Lạc Việt chủng Indonesian có lượng gen Mongoloid cao. Vì vậy khi được
bổ sung gen Mongoloid từ đồng bào phương Bắc về, lượng gen Mongoloid trong lứa con
cháu vượt qua ngưỡng của chủng Australoid để trở thành Mongoloid phương Nam. Điều
này khiến cho dân cư Việt Nam là một dòng liên tục, không bị ngắt quãng từ
70.000 năm trước. Do vậy mà tiếng nói cũng liên tục, là tiếng Indonesian (Lạc
Việt). (7) Cũng không hề có “nhóm Tày-Thái cổ” nào gây được tác động như vậy. Nếu
có nhóm Tày-Thái cổ thì cũng là người Lạc Việt, nói tiếng Lạc Việt. Khi đưa ra
kịch bàn “gặp Tày-Thái cổ” là học giả Pháp qua người Thái hiện tồn rồi suy đoán
thiếu cơ sở. Di truyền học, như hình trên chỉ rõ, xác nhận người Lạc Việt chủng
Indonesian chiếm lĩnh Hoa lục, mà nhánh chính là Tày Thái. Sử còn ghi, một người
con gái Thái làm vợ Đế Khốc, chắt của Hoàng Đế, sinh ra vua Nghiêu. Do sống
trên lưu vực Hoàng Hà, người Thái sớm chuyển sang ngôn ngữ đơn âm hữu thanh. Theo
biến động lịch sử, họ nhiều lần trở về Việt Nam. Lứa trở về khoảng 300 năm TCN
đã hòa nhập dân cư đầu tiên khai phá đồng bằng sông Hồng, làm nên cộng đồng người
Kinh. Lứa trở về vào thời Nguyên thì sống ở Tây Bắc Việt Nam còn đại bộ phận
tràn vào Lào, Thái Lan, thành người Thái hôm nay. Trong tiếng nói nhóm Thái này
có nhiều từ Hán.
Theo khảo cứu của chúng tôi, cộng đồng người Kinh được hình
thành như sau:
Khoảng 300 năm TCN, nước biển rút, phần chủ thể của đồng bằng
sông Hồng xuất hiện. Người Việt ở miền Trung ra, từ trung du Bắc Bộ xuống và từ
Nam Trung quốc kéo về khai thác đất mới. Do cùng chủng tộc và tiếng nói nên
không có mâu thuẫn sắc tộc. Nhờ môi trường thuân lợi, kinh tế phát triển, đời sống
được nâng cao nên nhân số tăng nhanh. Trong số người từ Nam Trung Quốc về, có
người Tày Thái, người Hẹ, người Choang… những người từng sống cùng hoặc tiếp
xúc với dân lưu vực Hoàng Hà nên tiếng nói đã chuyển sang đơn âm, hữu thanh. Tiếng
nói mới lạ được lan truyền trong cộng đồng. Thời Bắc thuộc, chữ Nho thành quốc
ngữ, tiếng nói đơn âm, hữu thanh trở nên phổ biến. Cùng với sự giao lưu kinh tế
và xuất hiện đô thị, một cảnh quan dân cư đô thị hình thành. Cho đến thế kỷ
XIII, triều đình chính thức thừa nhận sắc dân mới trên lãnh thổ: người Kinh. Điều
này cũng diễn ra tại đồng bằng miền Trung. Từ đó có thể chắc rằng: người Kinh
là do những cư dân năng động nhất từ các bộ lạc người Việt tại Bắc Việt Nam và
Nam Trung Quốc tiến về khai thác đồng bằng sông Hồng tạo nên. Khi hình thành cảnh
quan mới thì một cộng đồng người với nếp sống mới ra đời. Trong khi đó, đồng
bào của họ sống trong những bản, mường, phum sóc… vẫn giữ tiếng nói và nếp văn
hóa truyền thống, trở thành các tộc người thiểu số.
Đây là kịch bản do chúng tôi đề xuất. Rất mong các học giả
và bạn đọc phê bình.
6. Việc định họ cho tiếng Việt
Tiếng Việt cho đến nay đã được xếp lần lượt trải qua bốn họ:
Đông Dương, Hán-Tạng, Tày Thái và Nam Á. Câu hỏi được nêu ra: tại sao lại như vậy?
Có thể thấy là, hai lần đầu mang tính tập thể, kiểu dồn vịt vào chuồng. Nhưng
hai lần sau là suy nghĩ cẩn trọng. H. Máspero nhận ra nhiều từ vựng chung giữa
tiếng Thái và tiếng Annam nhưng vì Annam là nước nhỏ, nô lệ, lại vay mượn nhiều
từ tiếng Hán nên không đáng để đứng tên một họ ngôn ngữ. Do vậy, ông đặt ra họ
Tày-Thái rồi nhét tiếng Annam vào trong rọ. Cảm thấy có lý, nhiều người ủng hộ.
Nhưng rồi nhiều năm sau, trong khi thao tác nghề nghiệp, A.G. Haudricourt “ngộ
ra”, sẽ phù hợp hơn nếu xếp tiếng Annam vào nhánh Mon-Khmer của họ Nam Á. Ý tưởng
cách tân được hưởng ứng! Tại sao lại như vậy? Hơn trăm năm trước, vào năm 1892,
Đô đốc Hải quân người Pháp H. Frey đã đã phát hiện: “Tiếng Annam, mẹ đẻ của các
ngôn ngữ: cộng đồng gốc của các chủng tộc Celtic, Semitic, Sudan và
Indo-Chinese” (L'annamite, mère des langues: communauté d'origine des races
celtiques, sémitiques, soudanaises et de l'Indo-Chine). Là mẹ các ngôn ngữ, tiếng
Việt phong phú hơn con cháu mình. Do đó tuy có những yếu tố âm tiết và từ vựng
chung với nhiều tiếng nói khác nhưng khi đem tiếng Việt nhét vào bất cứ họ ngôn
ngữ nào thì cuối cùng cũng bị đẩy ra vì cái khuôn quá hẹp. Ngay cái lồng Nam Á
của A.G. Haudricourt nghe có vẻ ngon lành. Nhưng có phải vậy không? Từ khám phá
về chủng tộc và ngôn ngữ hôm nay, ta thấy việc gán ghép này cũng giả tạo. Thứ
nhất, người Việt là chủ thể của cộng đồng Lạc Việt, cư trú lâu dài trên đất Việt
Nam, nơi phát tích của dân cư phương Đông. Trong khi đó, người Munda là một
nhánh Lạc Việt di cư sang Ấn Độ 50.000 năm trước. Vì vậy, cũng như dân Tày-Thái
hay Mon-Khmer, ngôn ngữ Munda là nhánh con. Khi nhét tiếng Việt vào cái lồng
Nam Á không những không phù hợp về ngôn ngữ mà còn kéo lệch trung tâm ngôn ngữ
Việt ra ngoài vị trí vốn có của nó là Đông Dương.
Chúng tôi cho rằng, sẽ tới ngày mà ngôn ngữ học phải trở lại
với ý tưởng của John Leyden 200 năm trước, xác lập họ ngôn ngữ mà tiếng Viêt là
trung tâm, mẹ của phần lớn ngôn ngữ phương Đông. Thay cho họ ngôn ngữ
Indo-China, có thể lấy tên là họ ngôn ngữ Indonesian.
III. Kết luận và khuyến nghị
Sang khai hóa phương Đông, học giả phương Tây mang theo vũ
khí trí tuệ siêu việt là thuyết Đa vùng của nguồn gốc loài người với da trắng
thượng đẳng cùng quan niệm Âu trung: châu Âu là trung tâm của thế giới. Là những
nhà Hán học nên họ tin vào thuyết Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của văn minh
châu Á. Hơn trăm năm khoa học nhân văn Việt Nam được dựng trên cái kiềng ba
chân vững chắc: Người Bắc Kinh Homo pekinensis là tổ tiên dân da vàng châu
Á. Từ phía Tây, người Hán xâm nhập miền Trung Hoàng Hà xây dựng văn minh Hoa Hạ.
Người Hán mang văn minh Hoa Hạ xuống khai hóa các sắc dân bán khai phương Nam.
Đông Nam Á là vùng trũng của lịch sử, dân nơi đây không hề có thiên tư sáng tạo.
Đồ đá mài Hòa Bình là từ lưu vực Hoàng Hà đưa xuống. Nghề đúc đồng từ Hallstatt
Đông Âu đưa tới lưu vực Hoàng Hà 1000 năm TCN và 500 năm TCN người thợ Trung Quốc
truyền xuống Việt Nam. Năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt. Con cháu của Viêt
vương Câu Tiễn chạy xuống Bắc Bộ Việt Nam, làm nên dân cư Việt Nam hôm nay. Tiếng
Việt vay mượn 70% từ ngôn ngữ Hán…
Vì vậy, sang thiên
niên kỷ mới, khi Thuyết Đa vùng sụp đổ thì cả hai chân kiềng còn lại cũng sụp
theo. Như phản ứng dây chuyền, cuốn sách của ông Trần Trí Dõi cùng chung số phận.
Trái với kỳ vọng của tác giả, cuốn sách không góp phần tìm hiểu văn hóa mà khiến
cho văn hóa Việt càng trở nên u minh.
Điều vui mừng là trên đống hoang tàn của khoa học nhân văn
cũ, khám phá vĩ đại của lịch sử được khai mở. Việt Nam là nơi phát tích của
nhân loại ngoài châu Phi. Trong quá khứ xa xăm, người Việt Nam ra đi mở mang thế
giới, đem máu huyết, tiếng nói và văn hóa làm nên các dân tộc châu Á, châu Âu,
châu Mỹ. Trên đất Đông Á, người Việt sáng tạo nền Minh triết Việt Nho rực rỡ mà
do thời cơ chưa đến, còn trầm tích trong lòng đất lòng người. Nếu biết khai mở,
nền khoa học nhân văn thực sự của phương Đông sẽ tỏa ánh sáng Minh triết dẫn đường
nhân loại trong kỷ nguyên mới. Công việc trước mắt của trí thức Việt là đoạn
tuyệt với khoa học nhân văn sai lầm của quá khứ, rèn luyện bản lĩnh để phục
hưng trí tuệ Việt, viết lại lịch sử Việt, tìm lại đạo Việt, tạo dựng nguồn lực
Việt và đào tạo nhân lực Việt.
Sài Gòn, 9. 2022
Reference
1.
George van Driem The Diversity of the
Tibeto-Burman Language Family and the Linguistic Ancestry of Chinese file:///C:/Users/ADMIN/Downloads/The_diversity_of_the_Tibeto_Burman_langu%20(2).pdf
2.
GS. Trần Quốc Vượng nói về văn hóa VN - BBC
Vietnamesehttps://www.bbc.com › 2005/03 › interviewweek112005
3.
J.Y. Chu et al. Genetic relationship of
populations in China. ( https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC21714/
4.
Chuan-Chao Wang and Hui Li. Inferring human
history in East Asia from Y chromosomes. (file:///C:/Users/ADMIN/Downloads/Inferring_human_history_in_East_Asia_fro.pdf)
5.
Hà Văn Thùy. Tiếng Trung Quốc là biến thể suy
thoái của tiếng Việt. (https://thuyhavan.blogspot.com/search?q=Ti%E1%BA%BFng+Trung+Qu%E1%BB%91c+m%E1%BB%99t+bi%E1%BA%BFn+th%E1%BB%83+suy+tho%C3%A1i+c%E1%BB%A7a+ti%E1%BA%BFng+Vi%E1%BB%87t)
6.
Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á.
DH&THCN. H,1983.
7.
Hà Văn Thùy. Tiền sử người Việt. NXB Hồng
Đức. H, 2022.
TRẢ LỜI CÂU HỎI: VÌ SAO NGƯỜI VIỆT KHÔNG BỊ ĐỒNG HÓA? Trao đổi với ông Nguyễn Hải Hoành
TRẢ LỜI CÂU HỎI: AI SÁNG CHẾ RA CHỮ HÁN?
Người bạn từ Cali gửi cho bài viết của Nguyễn Hải Hoành đăng
trên Nghiên cứu quốc tế: “AI SÁNG CHẾ RA CHỮ HÁN” cùng đề nghị giúp làm rõ chuyện
này. Thấy vấn đề đặt ra thực sự nghiêm túc nên cũng xin trả lời nghiêm túc đáp
lại nguyện vọng của người bạn cùng đông đảo bạn đọc. Tuy nhiên, thuật ngữ “chữ
Hán” là có vấn đề nên trong suốt bài này tôi dùng từ thỏa đáng hơn: chữ Nho!
Trong những yếu tố cấu thành nhận thức của con người, ngoài
những tri giác trực tiếp còn bị/được chi phối bởi vô thức xuất hiện trong tâm hồn/tâm
linh không những của từng người mà còn là của dân tộc qua tâm thức cộng đồng. Ý
tưởng chữ Nho do tổ tiên người Hàn sáng tạo không phải là chuyện ngẫu hứng một
sớm một chiều của mấy ông học “giả”! Tôi tin rằng nó tồn tại từ ngàn xưa và
luôn thôi thúc con tim người Hàn qua thế hệ này sang thế hệ khác, trong phức cảm
tìm lại cội nguồn. Nhưng cho đến cuối thế kỷ XX là điều bất khả vì chưa đủ dữ
kiện xác thực điều gì. Mọi tranh luận sẽ không có hồi kết. Nhưng đến nay, khi
khoa học đã lùa tay tới tận đáy lịch sử nhân loại thì việc tìm ra chủ nhân chữ Nho
trở nên đơn giản!
Trong bài này, tôi sẽ làm rõ bốn vấn đề sau:
1. Người
Trung Quốc, người Hàn, người Nhật, người Việt là ai?
2. Chữ Nho được hình thành ra sao?
3. Ngôn
ngữ phương Đông được hình thành như thế nào?
4. Giá
trị và vai trò của chữ Nho trong tương lai.
1. Người Trung Quốc, người Hàn, người Nhật, người Việt là
ai?
Đến hôm nay khoa học khẳng định, 40.000 năm trước, người Hòa
Bình Việt Nam đi tới Điền Nguyên Động, Chu Khẩu Điếm, là người hiện đại sớm nhất
có mặt ở Bắc Trung Quốc. Mang trong mình mã gen O3M122, Cụ Điền Nguyên (tôi xin
gọi Cụ như vậy) thuộc người Lạc Việt chủng Indonesian, là tổ tiên trực tiếp của
người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đồng thời là thủy tổ người bản địa châu Mỹ.
Tuy nhiên thực tế cũng cho thấy, Cụ Điền Nguyên chỉ là lớp tiền trạm báo cáo với
Trời đất là người từ Việt Nam đã tới đây làm chủ đất này. Lúc đó đang thời băng
hà, các cụ chỉ có công cụ vi đá microblades nên sổng rất gian truân. Tuy nhiên,
con cháu cụ đã chiếm lĩnh vùng Hoa Bắc, Siberia, châu Mỹ, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Đó là thành tựu vĩ đại của tiền nhân.
Cuộc sống chỉ trở nên sôi động khoảng 10.000 năm trước, sau khi Kỷ Băng hà kết thúc, mùa Xuân tới với loài người. Lúc này người Việt từ Quảng Đông, Quảng Tây, Giang Tây mang giống lúa, giống kê, giống gà, giống chó và lợn lên xây dưng nông nghiệp tại Giả Hồ, Hà Mẫu Độ, vùng Đông Bắc Trung Quốc và Ngưỡng Thiều Cao nguyên Hoàng Thổ. 7000 năm trước, tại làng Bán Pha tỉnh Thiểm Tây thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều, cùng trồng kê, người Việt cổ con cháu cụ Điền Nguyên gặp gỡ hòa huyết với người Mông Cổ phương Bắc (North Mongoloid – cũng từ Việt Nam lên đây 34.000 năm trước), sinh ra chủng người Mông Cổ phương Nam ( South Mongoloid), được gọi là người Việt hiện đại. Xây dựng được nền nông nghiêp phát triển, thức ăn dồi dào, Người Việt hiện đại tăng nhân số, trở thành dân cư chủ thể của lưu vực Hoàng Hà với hai trung tâm kinh tế lớn là Trong Nguồn (đồng bằng Hán Thủy – Trung Nguyên sau này) và Thái Sơn vùng Sơn Đông. Khoảng 6500 năm trước, bộ đôi cụ tổ đầu tiên (có tên) của tộc Việt là Phục Hy-Nữ Oa ra đời, hoàn thành việc chế tác Kinh Dịch. Khoảng 5300 năm trước vị tổ thứ hai của tộc Việt là Thần Nông xuất hiện. Từ vùng đất ngày nay là Hồ Bắc, Cụ đi xuống Thái Hồ Hàng Châu Chiết Giang xây dựng kinh đô Lương Chử của nhà nước vĩ đại đầu tiên ở phương Đông. Sử sách không biết đến tên của nhà nước này nên thường gọi là nhà nước Lương Chử. Nay có thể gọi là nhà nước Thần Nông với kinh đô Lương Chử.
Sự phân bố dân cư trên đất Đông Á.
Haplogroup C = Melanesian strain
Haplogroup D = Negritos strain
Halogroup N = Mongoloid strain
Halogruop O = Indonesian strain (người Lạc Việt)
Đấy là bối cảnh lịch sử Hoa lục cho đến đầu Công nguyên. Muốn
hiểu rõ bức tranh lịch sử này, cần nhìn ra những mảng màu tạo nên bức tranh là
những quốc gia và cộng đồng dân tộc từng làm chủ đất đai trong quá khứ. Trước
cuộc xâm lăng của Hoàng Đế, toàn bộ Hoa lục là giang sơn của người Việt hiện đại
chủng Mongoloid phương Nam, do người Lạc Việt lãnh đạo. Sau cuộc xâm lăng của họ
Hiên Viên, dân cư phương Đông bị tách làm hai: Nhà nước Hoàng Đế bao gồm một bộ
phận nhỏ người Mông Cổ chiến thắng cộng với số đông người Việt bị chiếm đóng.
Lúc đầu người Việt kháng cự mãnh liệt nhưng sau đó nhờ cai trị khôn khéo, Hoàng
Đề thu phục được dân Việt. Người Việt và
người Mông sống thuận hòa. Do người Việt quá đông, nên khoảng nửa thế kỷ sau,
người Mông Cổ bị đồng hóa. Trong vương triều toàn là người Việt, được cai trị bởi
người Hoa Hạ, là lớp con lai Mông Việt ra đời sau cuộc xâm lăng. Với thói quen
“ăn cây nào rào cây ấy,” người Việt trong nhà nước Hoàng Đế cũng hãnh diện nhận
mình là “Hoa Hạ” và theo vương triều, gọi đồng bào xung quanh là tứ di. Người
vùng Sơn Đông được gọi là Đông Di.
Sau sự cố Trác Lộc, một bộ phận người Việt ở Trong Nguồn và
Thái Sơn chạy xuống Nam Dương Tử rồi đi tiếp xuống Việt Nam. Đây là cuộc tỵ nạn
chiến tranh nên người di cư chủ yếu là nam giới. Người di cư mang nguồn gen
Mongoloid hòa huyết với người Việt cổ Australoid, hậu duệ của Tổ tiên ra đời
70.000 năm trước, sinh ra người Việt Nam hiện đại Mongoloid phương Nam. Từ 2000
năm TCN, toàn bộ dân cư Việt Nam là chủng Mongoloid phương Nam. Do hình thành
như vậy nên người Việt Nam có đa dạng sinh học cao nhất châu Á. Người Việt cổ
là thủy tổ dân cư châu Á và phần lớn nhân loại ngoài châu Phi.
Về người Hàn và người Nhật. Từ 30.000 năm trước, con cháu Cụ
Điền Nguyên đã có mặt trên đất Hàn và Nhật, xây dựng nền văn hóa cổ. Tại Nhật
là văn hóa Jomon. Nhưng khoảng 300 năm TCN, do sức ép của chiến tranh, hàng triệu
người Đông Di (lúc này thuộc địa phận nước Ngô cũ) chạy sang Hàn Quốc rồi từ
đây sang Nhật, làm nên dân cư và văn hóa hiện đại của hai quốc gia này. Ở Nhật
là văn hóa Jayoi. Cũng phải kể đến cuộc di cư của người Altaic, Eskimos,
Tungusic… từ Đông Siberia tới làm nên dân cư đa dạng của Hàn và Nhật. Tổ tiên
xa của người Hàn và Nhật là Cụ Điền Nguyên, mã gen Australoid. Do vậy, tổ tiên
trực tiếp của người Hàn và Nhật là người Việt sinh ra ở làng Bán Pha 7000 năm
trước. Có thể nói thêm rằng, do xuất thân như thế nên người Hàn gần về di truyền
với người Việt Nam hơn, như nhiều khảo sát gen đã chỉ ra.
Người Trung Quốc được hình thành ra sao? Sau năm 2698 TCN, với
nhà nước Hoàng Đế được thành lập thì cái gọi là “người Hoa Hạ” của thiên triều
Hoàng Đế ra đời, tồn tại tới thời Tần, được gọi là Trung Quốc, là trung tâm
thiên hạ, phân biệt với Tứ di xung quanh. Người Trung Quốc tự nhận là Hoa Hạ,
là Viêm Hoàng tử tôn – có nghĩa là con cháu của Thần Nông và Hoàng Đế! Có hai
chuyện nảy sinh ở đây: Thần Nông sống khoảng 3200 năm TCN nên không thể vượt
600 năm về cùng Hoàng Đế năm 2698 TCN để sinh ra người Trung Quốc! Thứ hai: nếu
là “Viêm Hoàng Tử tôn,” thì người Trung Quốc chỉ ra đời sau năm 2698 TCN, tới
nay mới có 4698 tuổi, trẻ nhất trong dân cư Đông Á!
2.Chữ Nho được hình thành ra sao?
Trong bài của mình, tác giả Nguyễn Hải Hoành nhắc lại truyền thuyết Thương Hiệt làm ra chữ, lại còn khẳng định tiếng Việt mượn 70% từ tiếng Hán, mặc nhiên biến ông thành “nhà thông thái” với kiến thức quá dat! Khoa học ngày nay đã chứng minh, những mầm mống đầu tiên của chữ vuông xuất hiện trên đá Sa Pa 10.000 năm trước. 9000 năm trước được đưa lên Giả Hồ với 11 ký tự: Nhật, Hỏa, Mục, Bát, 20... Khảo cổ học tìm được ở di chỉ văn hóa Hòa Bình 8000 năm hai đĩa gốm khắc chữ Thượng và chữ Sỹ. 6000 năm trước, chữ Giáp cốt xuất hiện trên xẻng đá Cảm Tang Quảng Tây, trên gốm Bán Pha Thiểm Tây. 5000 năm trước xuất hiện trên ngọc Lương Chử. Quan sát chữ Giáp cốt, tôi nhận ra rằng: bên cạnh những chữ rất “cổ quái” thách đố người đọc lại có những chữ rất hiện đại, như các chữ ở Giả Hồ, trên đĩa gốm Hòa Bình. Ngay trên một búa ngọc Lương Chử phát hiện ở Quảng Ninh, có 16 chữ thì dốt như tôi cũng đọc được dễ dàng chữ Lý, Qua, Dịch, Kim, Thị, 里,戈,易,金,是.Điều này hé lộ sự thật rằng, khi chế chữ, tổ tiên có lúc “gặp may” đã thể hiện chuẩn mực nhất cái ý cần thể hiện vào một ký tự nên nhận được con chữ hiện đại bền vững với thời gian, giống như những chữ trên giáp cốt văn hóa Giả Hồ.
Búa ngọc Lương Chử tìm được ở Quảng Ninh
Miên man suy nghĩ rồi tôi nhận ra rằng, tổ tiên ta cùng lúc
làm hai việc là tìm Dịch lý và tạo chữ viết. Ban đầu có thể những
nhóm khác nhau thực hành độc lập. Nhưng khi có thành tựu, các vị đã hợp tác để
cùng làm. Lúc này chữ được chế không còn là tùy tiện, ngẫu nhiên nữa mà được chỉ
đạo thuận theo Dịch lý với Âm Dương, Ngũ Hành nên chữ ngày càng có cấu
trúc chặt chẽ và mang ý nghĩa triết lý. Hòa thượng Viên Như là người phân tích
rất kỹ Dịch lý trong chữ viết, đã có những khám phá thú vị. Điều đáng suy nghĩ
là tốc độ làm chữ của các cụ quá chậm. Suốt 5000 năm từ Giả Hồ đến Lương Chử mà
chữ vẫn chỉ được dùng cho cúng tế, bói toán! Do vậy, 200 năm (1500 -1300 năm
TCN) của nhà Ân là bước nhảy vĩ đại. Tôi cho rằng, khi chiếm đất An Dương của
người Việt, nhà Ân có con mắt tinh đời nhận ra giá trị lớn lao của chữ viết nên
tận dụng những “vẽ sư” người Việt, chế tác thật nhiều chữ rồi sử dụng rộng rãi
trong nhân sự, hành chính, địa dư, lịch sử… Nhờ thế, văn tự xuất hiện lần đầu
trong lịch sử phương Đông. Nói công bằng, làm chữ là một quá trình kiên trì gần
10.000 năm của cộng đồng Việt tộc mà người Việt thuộc triều Ân Thương có công đặc
biệt lớn, đã hoàn thiện công việc gian nan kéo dài.
Người Việt Nam trước đây không cạnh tranh bản
quyền chữ Nho với người Hán bởi chưa có căn cứ lịch sử. Chỉ thấy chữ từ khi Triệu
Đà mang xuống nên vội vàng học, trân quý gọi là chữ Thánh hiền! Nhưng nay thì
chuyện đã khác: Tổ tiên người Việt Nam không chỉ là thủy tổ dân cư Trung Quốc
mà còn là người khởi đầu sáng chế chữ Nho.
Với người Hàn, được sinh ra cùng mọi dòng Việt
hiện đại khác trên lưu vực Hoàng Hà 7000 năm trước và xây dựng quê hương Sơn
Đông. Khi Hoàng Đế chiếm đất Trong Nguồn thì người Sơn Đông vẫn bán trụ trên đất
của mình dưới ngọn cờ của anh hùng Si Vưu, vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Một
trong những công việc của dân vùng Sơn Đông là hoàn thiện chữ Giáp cốt để bói
toán và thờ cúng trời đất Tổ tiên. Cố nhiên không khỏi đau xót khi bị đồng bào
chèn ép xúc phạm gọi là Đông Di. Vào thế kỷ XV TCN, người Đông Di chống trả việc
Bàn Canh chiếm đất An Dương lập nhà Ân đồng thời chứng kiến việc chữ vuông được
hoàn thiện, đưa vào cuộc sống. Người Đông Di cũng tham gia vào việc hoàn thiện
chữ vuông, cũng là người sử dụng chữ vuông từ rất sớm như thành quả đáng tự hào
của tổ tiên. Thế kỷ III TCN bị chiến tranh dồn ép sang bán đảo Cao Ly dựng nước
mới, người Đông Di thành người Triều Tiên, mang theo chữ vuông, vẫn không quên
công đức của Tổ tiên mình, trong đó có việc chế tạo chữ vuông. Vì vậy hôm nay học
giả Hàn Quốc nhận bản quyền sáng chế chữ Nho cho Tổ tiên là hoàn toàn chính
đáng. Nhưng suy cho cùng, sáng tạo chữ vuông là công lao của tổ tiên người Việt
trên đất Đông Á.
3.Ngôn ngữ phương Đông được hình thành như thế nào?
Sống hơn 200.000 năm trên đất tổ châu Phi, con người đã trưởng
thành về giải phẫu và tiếng nói. Vì vậy khi tới Việt Nam, sinh ra người Việt thì
tiếng nói của người Việt cổ đã trưởng thành. Trong 30.000 năm sống tại Việt Nam
(70.000 – 40.000), người Việt cổ phát triển mạnh nông nghiệp trồng rau củ quả,
đảm bảo nguồn dinh dưỡng dồi dào, góp phần tăng nhân số. Trong lao động lâu
dài, người Việt bổ sung thêm nhiều tiếng nói gọi tên cây trồng, vật nuôi và hoạt
động xã hội. Vì vậy người Việt sáng tạo vốn từ vựng phong phú để mang lên Hoa lục.
Như mọi ngôn ngữ sinh ra từ châu Phi, tiếng Việt cũng đa âm vô thanh.
Nhưng từ khi chữ vuông ra đời, có chuyển biến lớn. Chữ vuông là chữ đơn lập: mỗi
chữ chỉ ghi được một âm. Do vậy, những tiếng đa âm muốn được ghi thành
chữ, buộc phải bỏ bớt phụ âm đầu hay phụ âm cuối, biến thành đơn âm. Thí dụ blời
-> lời -> trời -> thiên; Kron -> sông -> rồng … Một khi tiếng đã
đơn âm thì dễ được chuyển nghĩa bằng cách đọc nhẹ hay nặng để thành chữ khác
nghĩa. Thí dụ: Thanh -> Thành -> Thánh -> Thạnh… Cuối cùng, tiếng Việt
trở thành thứ tiếng đơn âm với sáu thanh điệu. Tuy nhiên, có sự
thực là, tiếng nói thì nhiều trong khi số lượng chữ làm ra lại quá ít. Dù có
dùng lục thư để tạo chữ thì vẫn rất nhiều tiếng không được ghi lại. Những tiếng
này theo thời gian bị rơi rụng. Có thống kê cho thấy, tại Trung Nguyên, có tới
30% tiếng bị mất. Ở Nam Dương Tử, do độc tôn quan thoại và chữ vuông nên đến
nay có khoảng gần 20% tiếng bị mất. Do đó tiếng Trung Quốc bỏ mất 30% tiếng của
tổ tiên Việt tộc.
Trong khi đó, tại Việt Nam, tiếng nói của người tại chỗ kết
hợp tiếng nói của nhiều lớp người từ phía bắc trở về nên vô cùng phong phú, được
gọi là Nôm và Chữ. Từ thời Trần đã tạo ra chữ Nôm để ghi lại mọi lời nói của
dân gian nên tiếng nói được bảo lưu và sử dụng nhuần nhụy. Chữ quốc ngữ ra đời,
do ghi được cả chữ Nôm và âm Nho nên mọi tiếng nói của người Việt đều được ghi
chép và bảo tồn. Nhờ vậy tiếng Việt là ngôn ngữ phong phú giầu có nhất ở
phương Đông. Cuối thế kỷ XIX, từ Tây Phi sang công tác ở Đông Dương, Đô
đốc người Pháp Henri Frey đã nhận ra điều này rồi viết thành sách Tiếng Annam
là mẹ các tiếng nói (L'annamite mère des langues.) Cho rằng tiếng Việt mượn 70%
từ ngôn ngữ Hán là sai lầm chết người của học giả phương Tây. Do không biết nguồn
gốc tiếng nói Đông Á nên khi thấy trong tiếng Việt có tới 70% số chữ giống với
chữ Hán, họ theo quan điểm “dĩ Hoa vi trung,” cho rằng Việt mượn từ Hán. Sự thực,
như tôi đã chứng minh: tiếng Trung Quốc là phiên bản suy thoái của tiếng Việt.
4.Giá trị và vai trò của chữ Nho trong tương lai.
Tất cả thế giới dùng chữ biểu âm: chữ chỉ giữ vai trò là ký
hiệu của sự vật, hiên tượng. Trong khi đó chữ Nho là thứ chữ duy nhất biểu ý. Được
chế tác dưới sự chi phối của Dịch lý nên chữ Nho là văn tự mang trong bản thân
nó những ý nghĩa, triết lý sâu sắc. Có câu cách ngôn: “Tư duy nào, ngôn ngữ ấy”
cho thấy chỉ khi tư duy bằng chữ Nho và phát biểu bằng chữ Nho mới đạt tới chiều
sâu nhất của tư tưởng. Thao tác với chữ Nho giúp bộ não khai mở, sáng tạo những
điều kỳ diệu.
Viêt Nam bị người Trung Quốc đô hộ 1000 năm. Đó là họa lớn.
Nhưng trong họa có phúc đó là có chữ Nho từ sớm để xây dựng văn hiến. Hầu hết
người Việt nghĩ rằng, chữ Nho là do người Hán mang tới để thống trị, nô dịch
dân ta. Do thiếu thông tin nên không hiểu rằng, chữ Nho là văn tự do tổ tiên ta
sáng chế, từ Việt Nam đưa lên, được hoàn thiện tại Nam Hoàng Hà. Sau đó được
truyền về cho chúng ta. Nếu không có phần Nho trong lời ăn, tiếng nói thì văn
hóa của chúng ta sẽ rất nôm na! Việc bãi bỏ chữ Nho là họa lớn. Hơn 200 năm trước,
một học giả nước ngoài có nói, đại ý: “Chúng ta cho người An Nam thứ chữ dễ học,
dễ nhớ, giúp họ tiếp thu nhanh văn minh thế giới. Nhưng rồi sau này con cháu họ
sẽ trách là chúng ta đã ngăn cách họ với tổ tiên.” Câu nói đó đã thành sự thật.
Phải nói rằng, cùng với nhiều nguyên nhân khác, việc bỏ chữ Nho góp phần làm
cho chúng ta trở thành dân tộc thiểu năng trí tuệ.
Về phần người Hàn. Nói tiếng Hàn thuộc hệ ngữ Altaic cũng
chưa phải. Sở dĩ có quan niệm như vậy là do, có số lượng nhỏ người Altaic từ
Đông Nam Siberia xâm nhập Triều Tiên, đã pha tiếng nói của họ vào ngôn ngữ Hàn.
Là người Đông Di nên tiếng Hàn là tiếng Việt. Cũng như tiếng Việt Nam, trong tiếng
Hàn có phần “Nôm” là tiếng nói của dân gian và phần “chữ” là Nho. Nhưng vì nóng
vội thoát Trung nên người Hàn bãi bỏ chữ Nho. Bỏ chữ Nho là chối bỏ phần lớn kho
tàng ngôn ngữ của tổ tiên, lại là phần giá trị nhất. Những tiếng “Nôm” được ghi
bằng chữ Hangul không thể đạt được chiều sâu tư tưởng. Do vậy, tiếng Hàn giữ được
hồn dân nhưng lại thiếu sự sâu sắc của bộ não. Nay người Hàn tỉnh ngộ khôi phục
chữ Nho là điều mừng.
Trong ba nước Đông Á ngoài Trung Quốc thì người Nhật đã xử
lý tuyệt vời quan hệ giữa chữ Nho, Hiragana và Katakana. Từ đó họ sáng tạo ra văn
bản cùng lúc chứa hai loại chữ, bổ sung cho nhau tạo nên tiếng nói đồng điệu. Mặt
khác, họ bắt buộc học trò mỗi cấp phải thuộc một số chữ Nho nên con cháu không
bị mù trước chữ nghĩa của tổ tiên. Vì vậy, trăm năm nay con cháu của Nữ thần
Thái Dương bước vững chắc trên đôi chân DÂN TỘC-HIỆN ĐẠI. Người Hàn chắc sẽ
theo đường này!
Sài
Gòn, Xuân Nhâm Dần