HỒNG BÀNG THỊ TRUYỆN, CUỐN SỬ ĐẦU TIÊN CỦA TỘC VIỆT

                                                                                                                   

Trên trang Boxit Việt Nam ra ngày 23/04/2021, PGS-TS Chu Mộng Long có bài Tinh thần “Dĩ Bắc vi trung” trong huyền thoại Lạc Long Quân – Âu Cơ. Bài viết được Giáo sư Nguyễn Huệ Chi giới thiệu: “Bài của anh Chu Mộng Long có kiến giải rất mới về huyền thoại Lạc Long Quân - Âu Cơ lâu nay ta vẫn coi là truyền thuyết về nguồn gốc người Việt. Tác giả dựa trên ý kiến của Ngô Thì Sĩ trong Việt sử tiêu án, đồng thời tìm thấy một truyền thuyết trong La Province Muong de Hoa Binh của Pierre Grossin có những motif tương đồng để chỉ ra đâu là sơ đồ gốc của truyền thuyết và đâu là sự xuyên tạc của nhà nho thời Bắc thuộc khiến cho truyền thuyết bị bóp méo bởi ý đồ lấy phương Bắc - Hán tộc - làm trung tâm (dĩ Bắc vi trung); đó là ý đồ tệ hại nhất mà hàng nghìn năm qua trí thức người Việt đã thiếu cảnh giác nên nhận lầm.”

Thế là thêm một lần huyền thoại gốc của tộc Việt bị chà đạp. Lần này được các nhà khoa bảng hàng đầu dìm xuống bùn đen. Tôi, Hà Văn Thùy, phó thường dân Sài Gòn, vốn ít học, không có bùa sư sãi, chỉ là gã tay ngang viết sử xin được thưa lại đôi lời.

Mỹ học dạy rằng, huyền thoại không phải là lịch sử nhưng là ánh xạ của những sự kiện trọng đại xảy ra từ quá khứ, lắng đọng trong tâm thức cộng đồng rồi được truyền tới mai sau. Trong các loại huyền thoại thì có ý nghĩa nhất là huyền thoại về cội nguồn. Đó là ước mơ, là khát vọng của tuổi thơ con người ngưỡng vọng về tổ tiên, dòng giống. Đó cũng là tờ giấy khai sinh của một dân tộc. Huyền thoại cội nguồn với mọi dân tộc đều thiêng liêng. Nhưng với người Việt, huyền thoại Lạc Long Quân-Âu Cơ còn có ý nghĩa lớn lao hơn nhiều.

Xin hỏi, trong suốt nghìn năm Bắc thuộc, người Việt bám víu vào đâu để tồn tại? Mất nước là thảm họa nhưng có lẽ chưa đáng sợ bằng mất gốc. Nước mất còn có cơ đòi lại nhưng khi mất cội nguồn, con người thành kẻ không hồn không vía, bơ vơ lạc loài như con thuyền giữa biển đêm đen không biết bờ bến để tìm về. Mất cội nguồn là mất tất cả, mất vĩnh viễn! Vì vậy, trong cái đêm trường dạ tối tăm trời đất ấy, Người Mẹ Việt ru con:

Công cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra.

 

… Gió Tiền Đường mẹ ru con ngủ,

Trăng Động Đình thức đủ năm canh.

Bổng bồng bông, bổng bồng bông,

Võng đào mẹ ẵm con rồng cháu tiên…

Từ tiếng ru bước ra, đứa trẻ Việt được nghe kể về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân-Âu Cơ, về dòng giống Tiên Rồng; về bọc trăm trứng làm nên đồng bào, về cánh đồng Tương nơi những người con của cha Long Quân gặp lại nhau… Chính những dòng huyền thoại ảo diệu ấy nâng niu, an ủi trái tim người dân Việt, giúp họ trì chí bền gan quẫy ngược dòng để giành lại đất nước. Vô hình trung, huyền thoại Lạc Long Quân-Âu Cơ trở thành những trang sử đầu tiên của người Việt! Thời ấu thơ, con người nguyên sơ hồn nhiên coi huyền thoại là lịch sử.

Khi giành được nước, những nhà nho đầu tiên của dòng giống Việt từ huyền thoại viết nên lịch sử của dân tộc. Đấy là lúc Lĩnh Nam Chích quái, Việt điện u linh ra đời, ghi lại những huyền thoại truyền thuyết lưu truyền trong dân gian. Rồi trên cơ sở đó, Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sỹ Liên… viết những dòng đầu tiên của sử Việt. Không phải các vị đó không biết rằng, người không thể đẻ ra trứng. Cũng không phải không biết bấm ngón tay để hiểu cái vô lý khi 18 đời vua lại trị vì suốt 2600 năm … Nhưng bằng tâm cảm, các vị hiểu rằng, trong cõi mơ hồ ấy tất có “hồn” của sự thật nên mạnh dạn ghi Hồng Bàng thị truyện vào chính sử. Hậu thế coi đó là công lao lớn với dân tộc vì đã không để những ký ức vô giá bị trôi đi.

Năm tháng qua đi, có nước rồi, có sử rồi, người trí thức Việt cũng trưởng thành để có trí lực bình sử, xét lại những điều tiền nhân ghi trong chính sử. Tin vào trí tuệ của mình, các học giả dùng tri thức lịch sử để giải mã huyền thoại. Không có gì bất thường khi Hồng Bàng thị truyện được đem ra mổ xẻ đầu tiên. Bắt đầu bằng Hoàng giáp Ngô Thì Sỹ, qua ông vua Tự Đức đến “tứ trụ” Lâm - Lê - Tấn - Vượng, Tạ Chí Đại Trường, Liam Kelley, Trần Trọng Dương và hôm nay là Chu Mộng Long. Nếu nhà nho Trung đại chỉ phản bác những điều quái dị “ma trâu thần rắn” thì hôm nay, học giả “tân tiến” nhiều lý sự hơn. PGS người Mỹ Kelley và theo chân ông là cậu học trò nói leo Trần Trọng Dương cho rằng: “Hồng Bàng thị truyện được diễn xưng từ tiểu thuyết Tàu.” Rằng, “Các trí thức Hán hóa thời Trung Đại cố tạo dựng ra lịch sử Việt theo mẫu hình Trung Hoa: lịch sử Trung Hoa dài bao nhiêu thì sử Việt dài bấy nhiêu. Lịch sử Trung Hoa có việc gì thì sử Việt có chuyện đó…” Và nay thì nảy nòi chủ thuyết “dĩ Bắc vi trung” (!)

Xin được hỏi, cái gọi là tri thức lịch sử của chư vị có đáng tin? Người Việt là ai, người Hán là ai vẫn còn mờ mịt! Nội hàm của “phương Bắc” là gì chưa được tường minh! Lịch sử, văn hóa là sản phẩm hoạt động xã hội của cộng đồng người. Khi chưa biết cộng đồng ấy là ai, có gốc gác thế nào và trải quá trình ra ra sao để có mặt như hôm nay thì tất cả những cái được gọi là “tri thức lịch sử” về cộng đồng ấy cũng chỉ là giả tạm! Sẽ ra sao khi dựa vào tri thức giả tạm để lập thuyết? Lấy cái quy củ, chuẩn tắc, cái khuôn mẫu giả tạm để soi xét, để đánh giá cái bồng bềnh như sương khói là huyền thoai liệu có khôn ngoan?!

Để có thể bàn một cách nghiêm túc về lịch sử, văn hóa Việt, trước hết, xin chư vị trả lời: người Việt là ai? Dám chắc rằng hoặc quý vị nói theo sách Tàu, sách Tây: “Năm 333 TCN, nước Sở diệt nước Việt. Con cháu Việt Vương Câu Tiễn chạy xuống Bắc Việt Nam làm nên dân cư Việt Nam,” hoặc tân kỳ hơn, quý vị nói theo Phan Huy Lê, đại sư của sử học quốc doanh rằng: “Thời Tiền sử của người Việt kéo dài tới 800.000 năm. Khoảng 140.000 năm trước, người “đi” thẳng (đi chứ không phải “đứng” thẳng!) Homo erectus chuyển hóa thành người Việt hiện đại, tổ tiên của chúng ta” (!) Tôi cũng tin, chư vị hoàn toàn không biết tới khám phá thực sự khoa học về nguồn gốc người Việt Nam được đưa ra từ năm 1983 trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á: “Thời đồ đá trên đất Việt Nam xuất hiện hai đại chủng Autraloid và Mongoloid. Họ lai giống với nhau và con cháu họ lai giống tiếp, sinh ra bốn chủng người Việt cổ là Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid, cùng thuộc nhóm loại hình Australoid. Sang thời kim khí, người Mongoloid xuất hiện và trở thành chủ thể trên đất này. Người Australoid hoàn toàn biến mất, không hiểu do di cư hay đồng hóa.” Đấy là kết quả chính xác nhất từ khảo sát 70 cốt sọ thời đồ đá và thời kim khí tìm được ở Việt Nam. Tuy phân loại chính xác các cốt sọ nhưng giáo sư Nguyễn Đình Khoa cũng không hiểu được là từ đâu và thời gian nào người tiền sử xuất hiện? Ông cũng không trả lời được những câu hỏi thiết yếu: người Mongoloid từ đâu ra và vì sao người Australoid biến mất? Sử Việt bế tắc là do vậy! Năm 1983 tình cờ tôi mua được cuốn sách của Nhà xuất bản Đại học và Trung học chuyên nghiệp tại thị xã Rạch Giá, một cuốn sách bìa màu xi măng, giấy bổi đen nhèm. Mua để kỷ niệm một thời học trò chứ khi đọc tôi hầu như không hiểu! Nhưng năm 2004, khi tiếp cận tài liệu Genetic Relationship of population in China của Giáo sư Chu và cộng sự tại Đại học Texas, biết được việc người từ châu Phi di cư tới Việt Nam, thì cuốn sách trở thành cẩm nang dẫn đường thông tuệ giúp tôi tìm ra cội nguồn dân tộc.

Tri thức mới nhất của khoa học nhân loại giúp khám phá rằng, hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi tới Việt Nam 70.000 năm trước. Tại Việt Nam, họ gặp gỡ và hòa huyết, sinh ra bốn chủng người Việt cổ thuộc loại hình Australoid. Nhưng không hiểu vì lẽ huyền vi nào mà trong khi đa số tìm đến nhau thì lại có những nhóm nhỏ Mongoloid đi lên Tây Bắc Đông Dương, sống săn bắn hái lượm trên vùng giá lạnh. 40.000 năm trước, khí hậu được cải thiện, người Việt cổ đi lên Quảng Đông, Quảng Tây. Trong khi đó, cộng đồng Mongoloid theo “Thục đạo nan” tới đất Mông Cổ. Khi Kỷ Băng hà kết thúc, họ thuần hóa gia súc và chuyển sang sống du mục trên đồng cỏ Bắc Hoàng Hà. Tại lưu vực Dương Tử người Việt cổ sáng tạo văn hóa nông nghiệp trồng lúa, trồng kê, nuôi gà, chó, lợn. 9000 năm trước, mang nghề nông lên lưu vực Hoàng Hà. 7000 năm trước, mang cây kê lên trồng trên cao nguyên Hoàng Thổ. Tại làng Bán Pha gần Tây An, thủ phủ tỉnh Thiểm Tây, người Việt cổ Australoid gặp gỡ, hòa huyết với người Mông Cổ du mục, sinh ra chủng người mới Mông Cổ phương Nam (South Mongoloid). Sau này được gọi là người Việt hiện đại, là tổ tiên trực tiếp của toàn bộ dân cư châu Á hiện nay. Do ưu thế di truyền, người Việt hiện đại tăng nhanh nhân số, thay thế người Australoid, trở thành chủ thể của lưu vực Hoàng Hà, kế tiếp cha ông, xây dựng văn hóa Ngưỡng Thiều, Long Sơn với hai trung tâm lớn Thái Sơn và Trong Nguồn. 6500 năm trước, Phục Hy - Nữ Oa, vị Tổ đầu tiên (có tên tuổi) của người Việt xuất hiện và hoàn thành công trình sáng tạo kinh Dịch của tộc Viêt, có tên là Liên sơn dịch. Khoảng 5200 năm trước, vị Tổ thứ hai Thần Nông ra đời. Không chỉ là người “làm nông nghiệp giỏi như thần” như ông Long hiểu mà được tôn làm nhân thần thiêng liêng của nghề nông phương Đông, được vinh danh thành chùm sao Thần Nông trên dải Ngân hà. Có sự thật này mà ít người biết: Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông là tổ của người Việt. Khi cha ông chúng ta rời Núi Thái-Trong Nguồn về phương nam thì những người ở lại kế thừa thờ phụng. Đến khi trở thành người Hán, họ coi là tổ của riêng họ. Những người Việt hiểu lịch sử, nhận tổ Phục Hy, Thần Nông lại bị chính đồng bào mình cho là nhận vơ, thấy người sang bắt quàng làm họ!

Từ Hồ Bắc, Thần Nông xuống Lương Chử vùng Thái Hồ cửa sông Chiết Giang lập nước. Sau 80 năm khai quật và nghiên cứu văn hóa Lương Chử (1936-2016), học giả Trung Quốc phát hiện, Lương Chử là kinh đô của nhà nước đầu tiên ở phương Đông, với diện tích hơn một nửa nước Trung Quốc. Đây là nhà nước có nền văn hóa phát triển cao: đồ đá mài sắc bén, đồ gốm tinh xảo với độ nung cao. Đặc biệt là bộ sưu tập đồ ngọc thờ và trang sức lớn nhất thế giới, thể hiện sự phân tầng xã hội cao. Nông nghiệp đạt trình độ cày bằng trâu bò. Lật lại quan niệm truyền thống, học giả Trung Quốc thừa nhận: “Văn hóa Lương Chử là cội nguồn của văn minh Trung Quốc.” Nghiên cứu cũng khám phá, chủ nhân Lương Chử là người Lạc Việt, mã di truyền O3M122, được gọi là Vũ nhân hay Vũ dân (羽人或羽民), thờ vật tổ kép là chim và thú… Từ kết quả nghiên cứu văn hóa Lương Chử so với truyền thuyết, ta có cơ sở để nhận định Lương Chử là kinh đô của nhà nước Xích Quỷ mà chủ nhân là họ Hồng Bàng, thuộc dòng giống Tiên Rồng.

Khoảng 4879 năm trước, diễn ra việc Đế Nghi dòng dõi Thần Nông chia đất, phong vương cho Đế Lai trị vì châu thổ Hoàng Hà. Lạc Long Quân trị vì nước Xích Quỷ lưu vực Dương Tử. Tuy chỉ thấy trong truyền thuyết nhưng đó là sự thật bởi lẽ, truyền thuyết ghi biên giới Văn Lang “phía tây giáp Ba Thục.” Điều này ám chỉ phía tây Văn Lang là nước Ba Thục.  Nay khảo cổ văn hóa Gò Ba Sao xác nhận, nhà nước Ba Thục do vị vua huyền thoại Tàm Tùng thành lập 5000 năm trước. Ba Thục trải qua các thời đại Bách Quán (Boguan ), Ngư Phù (Yufu ), Đỗ Vũ (Duyu 杜宇), tồn tại qua thời Thương và cuối cùng là gia tộc Khai Minh, kết thúc năm 316 TCN do cuộc xâm lăng của nhà Tần. Tránh họa diệt vong, hậu duệ của dòng họ Khai Minh là Thục Chế, Thục Phán mang theo 30.000 người trở về quê cũ Việt Nam, cùng người Việt chống quân Tần rồi lập nước Âu Lạc, xây dựng thành Cổ Loa theo hình tượng tòa thành cũ Gò Ba Sao đất Tứ Xuyên.

Dòng gen Mongoloid được Đế Minh truyền tới Lương Chử. Từ Lương Chử, dòng máu thiêng lan xuống phương nam, chuyển hóa dân cư Việt Nam và Đông Nam Á sang chủng Mongoloid phương Nam. Điều này có nghĩa là, người Nam Trung Quốc và Việt Nam vốn là người Việt cổ Australoid đã nhận được gen Mongoloid từ Thần Nông qua kinh Dương Vương, Lạc Long Quân để trở thành người Việt hiện đại Mongoloid phương Nam. Như vậy, mặc nhiên, dù muốn dù không, mọi người Việt Nam đều là con cháu các cụ Thần Nông, Đế Minh, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và các Vua Hùng. Cụ thể hơn, di truyền học minh định: Trong quá trình sinh sống, trên đất nước ta còn lại hai chủng Indonesian và Melanesian. Khi nhận thêm máu Mongoloid, người Indonesian chuyển thành chủng Mongoloid phương Nam điển hình. Đó là các sắc tộc Dao, Mường, Thái, Tày, Nùng… Trong khi đó, người Melanesian chuyển thành dạng Indonesian hiện đại của chủng Mongoloid phương Nam. Chúng ta có thể nhận ra điều này qua nước da và tóc của đồng bào Chăm, Khmer, Tây Nguyên. Ông Chu Mộng Long tuyên bố, là người Mường nên không có tổ là Kinh Dương Vương, càng không có chung cội nguồn với người Trung Quốc là cách nói vội vàng do hiểu sai rằng người Mường và người Kinh là hai dân tộc khác nhau!

Một câu hỏi: sao lại có chuyện nhận tổ quy tông vào lúc này? Theo phong tục, tổ chỉ xuất hiện khi một nhánh mới của dòng tộc ra đời. Một người rời quê quán đi tới nơi khác lập nghiệp, ông ta trở thành tổ của dòng họ nơi đất mới. Thời điểm nước Xích Quỷ ra đời, đánh dấu việc người Việt hiện đại Mongoloid phương Nam từ lưu vực Hoàng Hà đi xuống dựng cương thổ mới. Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân chính là người đầu tiên mang nguồn gen Mongoloid xuống lưu vực Dương Tử tạo nên một dòng giống mới. Cần phải ghi lại sự kiện này nên huyền thoại ra đời. Đây không phải lần đầu tiên người Việt sáng tạo truyền thuyết cội nguồn. Ban đầu, với quan niệm nguyên sơ về thế giới, cho rằng “vạn vật hữu linh,” “vạn vật như nhau” (tề vật luận) nên cái cây có thể sinh ra con người. Trong tiếng Việt từ châu Phi đưa tới thì bí bầu (people) là bậu, là bạn, là con người nên dân gian nảy sinh huyền thoại quả bầu mẹ. Về sau, do “văn minh” hơn nên nhận ra, cái cây vô tri không thể sinh ra con người. Lúc này xuất hiện huyền thoại Chim Ây cái Ưa, trứng chim nở ra người. Cuối thời Đá mới, văn minh hơn, cho rằng chỉ con người mới sinh ra con người nên người Việt ở Lương Chử mượn từ truyền thuyết Chim Ây cái Ưa của tổ tiên chi tiết trứng chim nở thành người để sáng tạo ra bầu thai Mẹ Âu Cơ! Theo thời gian, những tộc người cổ hơn thì giữ câu chuyện cổ, sắc tộc “tiến bộ” hơn giữ huyền thoại mới hơn. Vì thế, người Dao giữ truyện Trái bầu, người Mường nhớ truyện Chim Ây cái Ưa, người Kinh mang huyền thoai Một bọc trăm trứng từ bên Hồ Động Đình về. Cũng phải kể tới chuyện Quả bầu mẹ theo người Việt cổ lên lưu vực Hoàng Hà. Nhưng ở đây, do tiếp xúc với người Mông Cổ, nhiễm thói quen “nói ngược” nên quả bầu thành Bầu quả. Bầu quả biến âm tiếp thành Bàn Cổ. Quả bầu đã thành người, thành ông Bàn Cổ! Vẫn chưa hết, tới lúc nào đó Bàn Cổ thành ông Bành Tổ. Ta vẫn cho là huyền thoại Tàu mà không biết đó là “hàng” Việt. Chỉ mới đây, khi đọc chuyên luận về Các dân tộc miền núi Nam Đông Dương của Jacquese Duornet tôi mới biết, tại Tây Nguyên có Truyền thuyết Gliu và Gla – một phiên bản cổ của Truyện Tấm Cám! Từ đó nhận ra cái gốc dòng giống Việt sâu xa đến vậy! Huyền thoại Hồng Bàng thị cũng gửi cho ta thông điệp: với một trăm con trai được sinh ra, có nghĩa là quan hệ họ đằng cha, một hình thái của văn minh du mục từ lưu vực Hoàng Hà đã lan xuống. Từ đây, xã hội Việt Nam chuyển sang phụ hệ. Câu chuyện cũng phản ánh một thực tế mà sau này bằng công nghê tinh vi, di truyền học khám phá: quá trình chuyển hóa di truyền dân cư Việt Nam và Đông Nam Á sang chủng Mongoloid là kết quả truyền giống do cuộc di cư của người cha.

Xin nói một chút về nguồn gốc người Kinh. Học theo Viễn Đông Bác cổ, nhiều học giả Việt Nam tin vào công thức sau: Hai nhánh Chứt, Pọng sinh ra Tiền Việt Mường; sau đó thành Việt-Mường chung. Khi tiếp xúc với nhóm Tày Thái cổ, phân hóa thành Việt và Mường. Nhưng theo khảo cứu của chúng tôi, khoảng 300 -500 năm TCN, nước biển rút, phần chủ thể của đồng bằng sông Hồng hình thành. Người Lạc Việt từ miền Trung ra, từ trung du, miền núi phía Bắc xuống, từ Nam Dương Tử về, cùng chung tay khai thác đất mới. Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế phát triển, dân cư đông đúc, đô thị ra đời. Người dân hình thành lối sống với phong tục tập quán mới, được gọi là người kẻ chợ, dân kinh kỳ. Đến thế kỷ XIII được gọi là người Kinh. Trong khi bà con, dòng tộc của họ vẫn sống ở trung du, miền núi thành những bộ lạc thiểu số Mường, Thái, Tày, Dao…

Đấy là người Việt. Còn người Hán là ai?

Ở trên đã nói, người Việt hiện đại trở thành chủ thể lưu vực Hoàng Hà với hai trung tâm kinh tế văn hóa Thái Sơn, Trong Nguồn. Người từ Thái Sơn-Trong Nguồn trở về Việt Nam mang theo nỗi nhớ quê hương trong câu Công cha … Còn người ở lại Trong Nguồn-Thái Sơn thì sao? Đến thời Chu, Trong Nguồn trở thành Trung Nguyên, đất của nước Sở, con sông Nguồn mang tên Hán Thủy. Trong cuộc chiến chống Tần, Lưu Bang người nước Sở lập công, được phong vương. Hạng Vũ lấy tên con sông quê Hán Thủy để phong cho Lưu Bang làm Hán vương. Nhà Hán ra đời. Người nhà Hán thành người Hán. Mặc nhiên quốc danh thành tộc danh. Như vậy là người Việt ở lại Trung Nguyên thành người Hán. Trong khi đó cũng dân Trong Nguồn-Thái Sơn di cư xuống phương Nam trở thành người Việt Nam. Tuy cùng một dòng giống nhưng không phải là đồng nhất. Di truyền học xác khám phá, người về Việt Nam, nhận bộ gen gốc của tổ tiên Australoid 70.000 năm tuổi nên đa dạng sinh học cao nhất châu Á. Trong khi người Hán non trẻ là lứa con muộn màng với tuổi 7000 năm!

Phân tích trên giúp ta hiểu “Bắc” là Thái Sơn-Trong Nguồn, là đất hương hỏa, nơi chôn nhau cắt rốn của người Việt hiện đại. Bắc cũng là Động Đình Hồ, là Cánh đồng Tương nơi người Việt một thời quần tụ dựng xây nhà nước Xích Quỷ-Văn Lang. Khi trở về Việt Nam, phải biệt xứ xa quê, cha ông ta nhớ về đất tổ. Vì thời gian quá xa nên không ai còn biết tới chuyện thủy tổ đen cháy từ châu Phi tới những bảy vạn năm trước. Ký ức sâu xa nhất của con người chỉ còn nhớ được Núi Thái-Trong Nguồn với những vị tổ Phục Hy-Nữ Oa, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân-Âu Cơ... Tất cả những điều thiêng liêng ấy in sâu trong tâm khảm người dân Việt hồn hậu để thăng hoa thành truyền thuyết cội nguồn. Nếu có “dĩ Bắc vi trung” thì chính là cái “Bắc” này, đâu phải như cách hiểu nông nổi của Giáo sư Nguyễn Huệ Chi: “là sự xuyên tạc của nhà nho thời Bắc thuộc khiến cho truyền thuyết bị bóp méo bởi ý đồ lấy phương Bắc - Hán tộc - làm trung tâm (dĩ Bắc vi trung).” Không, truyền thuyết đó nảy sinh từ nhân dân, dân dã mà không phải của các nhà nho. Càng không phải của Sỹ Nhiếp như ông Chu Mộng Long suy luận vô sở cứ. Và nó cũng ra đời khi trên đất Đông Á toàn là người Việt, hàng nghìn năm trước khi người Hán xuất hiện. Vì vậy, cái “dĩ Bắc vi trung” - nếu có, hoàn toàn là niềm hoài vọng cội nguồn thiêng liêng của người Việt!

Còn vì sao tên người, tên đất được ghi bằng chữ Hán? Trước hết phải khẳng định, truyền thuyết được sinh ra trên lưu vực Dương Tử, bên Hồ Động Đình chứ không phải trên đất Việt Nam. Khi trở về Việt Nam, người Việt mang theo câu chuyện qua truyền khẩu vì chưa có chữ. Nhưng vẫn còn rất nhiều người Việt sống ở đồng bằng Dương Tử, sau này thành dân các nước Sở, Hán, Đường… Người Việt Đông (đến nay còn nhận mình là người Việt) vẫn nhớ truyền thuyết gốc của tổ tiên. Tới thời Đường các nghệ nhân chuyển thành Kinh kịch, Lý Triều Uy sáng tác thành tiểu thuyết Liễu Nghị truyện (柳毅傳). Cố nhiên, các tên đất, tên người, muộn nhất từ thời Hán được ghi bằng chữ Hán. Có những nhà nho từ Giang Nam mang sách xuống, có những đoàn sứ bộ Việt Nam đưa sách về. Vì vậy, trong Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, tên người tên đất đều là chữ Hán.

Nhận thức là một quá trình. Thời thơ ấu, con người từ huyền thoại để viết ra cuốn sử của mình. Đến khi tự coi là trưởng thành, con người duy lý dùng tri thức lịch sử để “giải huyền thoại.” Suốt 200 năm qua có một “trường phái” từ Ngô Thì Sỹ qua Tự Đức, tới các sử gia đương đại diễn ra quá trình giải huyền thoại, tập trung công kích Hồng Bàng thị truyện. Kết quả là huyền thoại cội nguồn bị trục xuất khỏi sách sử, lịch sử 4000 năm chỉ còn lại 2700 năm, biên giới lịch sử của quốc gia co lại như tấm da lừa. Lịch sử dân tộc bị cắt xén, bị xuyên tạc, bị bóp méo trở thành kỳ hình dị dạng. Mối nguy mất lịch sử đã hiện ra trước mắt.

Với những người chỉ sống tới cuối thế kỷ XX thì quan niệm như vậy còn có thể hiểu vì khi đó, do hạn chế của khoa học nên thời tiền sử nhân loại còn mơ hồ, hỗn độn giữa thực và ảo đã giúp cho đám học giả duy vật duy sử thắng thế, nhân danh “khoa học” bài bác những điều mà họ chưa hiểu. Nay đang ở thập niên thứ III của thế kỷ XXI. Với những khám phá của di truyền và khảo cổ về nguồn gốc loài người và các chủng tộc, khoa học đã đưa ra hàng tấn cứ liệu bác bỏ những quan niệm nhân học và lịch sử lỗi thời của thế kỷ XX. Có thể nói, sau năm 2000, khoa học nhân văn thế giới đã lột xác để trở thành một khoa học chính xác. Những bí ẩn lịch sử từng giấu kín trong máu người cũng như trong lòng đất lần lượt được đưa ra trước ánh sáng, giúp Con Người lần đầu tiên khám phá lịch sử chân thực của mình. Nhờ vậy chúng tôi đã viết được những cuốn sách: Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (Văn học, 2006); Hành trình tìm lại cội nguồn (Văn học, 2008). Để bạn đọc tiếp cận tài liệu mới của thế giới, chúng tôi đã dịch những tài liệu giá trị nhất rồi in thành cuốn Tìm cội nguồn qua di truyền học (Văn học, 2011); Khám phá lịch sử Trung Hoa (Hội Nhà văn, 2016);  Góp phần nhận thức lại lịch sử văn hóa Việt (Hội Nhà văn, 2016);  Tiền sử người Việt (Hồng Đức); Out of Vietnam explore in the world (Nhân Ảnh, San jose, 2021);  Rewriting Chinese History;  The Formation Process Of The Origin And Culture Of The Viet people (Nhân Ảnh, San Jose, 2021);  Đối thoại soi sáng lịch sử I,II (Nhân ảnh, San Jose 2020); Riêng vấn đề Hồng Bàng thị truyện, do có được tư liệu mới và giá trị, chúng tôi viết thành cuốn Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại đến hiện thực (Hội Nhà văn, 2017).

Với bằng chứng thuyết phục, những sách đó chứng minh rằng, Việt Nam là nơi đầu tiên trên đất châu Á mà người hiện đại đặt chân đến, sinh sôi rồi từ đó đi ra mở mang thế giới... Những tư tưởng mới mẻ đó không chỉ đến với hàng triệu người Việt mà còn được học giả quốc tế thừa nhận. Người đọc Việt Nam đã biết tới Liam Kelley, Phó giáo sư Đại học Hawaii in Manoa với tên Việt Lê Minh Khải và trang Leminhkhai’s blog. Năm 2010, đọc một bài viết của chúng tôi trên BBC tiếng Việt, nói rằng “người từ Việt Nam lan tỏa ra thế giới,” ông la lên: “Đó là những điều quái lạ, tôi chưa từng được học qua từ bất cứ khóa huấn luyện nào, cũng chưa thấy ghi trong sử Việt” rồi nổi đóa: “BBC điên rồi sao?” (BBC gone mad?) Từ đó, ông ra sức bài bác: “Hà Văn Thùy thiếu chuyên nghiệp”... Nhưng 10 năm sau, trong bài viết The centrality of “fringe history” Diaspora, the Internet and a new version of Vietnamese prehistory (Trung tâm “lịch sử bên lề”: tạm cư, internet và phiên bản mới của tiền sử người Việt) đăng trên Tạp chí International Journal of Asia Pacific Studies số ra ngày 30 January 2020, ông thừa nhận: “Có một nhóm “sử học bên lề” viết phiên bản mới cho lịch sử Việt Nam, đang trở thành trung tâm.” Trong khi đó rất nhiều vị khoa bảng đang là những bậc thầy tại các trường, các viện cố tình không biết những khám phá không chỉ giúp viết lại sử Việt mà còn góp phần thay đổi vận mệnh dân tộc.

Công việc bức thiết hiện nay là viết lại cuốn sử chân thực của tộc Việt. Không phải 4000 năm, càng không phải 2700 năm mà bắt đầu từ 70.000 năm trước, khi người Khôn ngoan từ châu Phi di cư tới Việt Nam, sinh ra tổ tiên chúng ta để rồi người Việt lan tỏa ra mở mang thế giới.

Với ông Chu Mộng Long, chúng tôi xin thưa,

Là giáo sư Ngữ văn, công việc của ông là học tri thức khoa học nhân văn để dạy học trò. Kiến thức ông học dựa trên sự hiểu biết về con người từ xa xưa đến cuối thế kỷ XX. Nhưng sang thế kỷ mới, những hiểu biết về con người cơ bản đã thay đổi. Trong khi đó, không cập nhật tri thức mới mà ông cứ mang những điều xưa cũ ra rao giảng. Từ vai trò người thầy khai sáng, ông tự biến mình thành kẻ bảo thủ truyền bá ngu dân. Bài “Tinh thần…” không chỉ ngu dân mà còn phản tộc. Là người thông minh, trung thực, có tâm với dân với nước, ông nghĩ sao về một cơ sự như vậy?

                                                                                                                 Sài Gòn 21. 11. 2021

 

 

 

 

 

 

 

An open letter to Mr. George van Diem

 

Hello Mr. George van Diem, in my previous letter to you, I agree with Stephen Oppenheimer (1), the only way south out of Africa by prehistoric people took place about 90-85,000 years ago. Along the way, there were groups of people who invaded India, forming the first population here. But 74,000 years ago, the Toba disaster and atomic winter destroyed them and their Indian habitat. Meanwhile, the migration flow has reached Southeast Asia and 70,000 years ago set foot on Vietnamese soil. However, in a 2012 article, Oppenheimer himself retracted this statement. But, by my research, I found his 2003 discovery to be correct, so I still maintain my opinion. By examining 35 Stone Age skulls and 35 Metal Age skulls, Vietnamese anthropology discovered that two great strains of Australoid (M) and Mongoloid (N) fused to give rise to three ancient Vietnamese strains, namely Indonesian (haplogroup O), Melanesian (haplogroup C), vedoid (D), of the same type group of Australoid. (2) Meanwhile, a number of individual Mongoloid groups ascended northwest of Indochina and stopped in front of the northern icy wall.

About 50,000 years ago, due to the increase in population, people from Vietnam went to the islands of Southeast Asia, to Australia. Perhaps due to the habit of racial gathering, the Negrito came to the Andaman and Nicoba islands. There were groups that crossed Laos and Myanmar, reconquered India at this time without people, becoming the first inhabitants of the subcontinent, called the Dravidians.

40,000 years ago, thanks to an improved climate, people from Vietnam went to China. From the Southwest of mainland China, an influx of people penetrated the Tibetan plateau, entered Northeast India, becoming the regional Dravidians. Meanwhile, the group of Mongoloid people from Northwest Indochina followed the Western China corridor to Mongolia. Because of keeping pure genetic resources, it is called North Mongoloid.

7000 years ago, at Yangshao South Yellow River, the ancient Viet met and merged with the North Mongoloid people, giving birth to the South Mongoloid race, known as the modern Viet. The modern Viet people increased in number, becoming subjects of the Yellow River basin. Over the course of history, the South Mongoloid people migrated south, genetically transferring the South Chinese, Vietnamese, and Southeast Asians to the South Mongoloid strain.

About 5000 years ago, from the west of the Yellow River basin, the South Mongoloid brought agriculture to the southwest, invading Northeastern India. This migration was predominantly male, creating the region's Austroasiatic-speaking population. About 4000 years ago, from Vietnam, an influx of South Mongoloid people passed through Laos, Myanmar to India, contributing to the Austroasiatic-speaking community here. Thus, there are two classes of population from Vietnam infiltrating East India. At the same time, there were also two classes of populations from China infiltrating Northeast India. The first wave of Australoid genetic code, spoke ancient Vietnamese. The latter is the genetic code for South Mongoloid, speaking an Austroasiatic language.

Dear Professor George van Driem, in your article you wrote: “The Indo-China structure contains all the languages of Asia and Oceania as far as Japan, Polynesia and Papua New Guinea... The idea that all Asian and Oceanic languages share some "common mixed origin" appealed to the British colonial authorities, who were convinced that they would be able to rule the peoples. Asians would be better off if a language study program to understand Indian could be implemented. Over time, the putative Indo-Chinese language family has shrunk in size, but the model is also tinged with racist rhetoric. Chinese has been a written language for millennia, with it serving as a vehicle for an advanced civilization. However, the eccentric and isolated position with which the Chinese were excluded in the Indochinese genealogy was not based on any appreciation of the subtleties of Chinese culture, but on a racist judgment. to the Chinese language and people arose among Western scholarship at the time of the Opium Wars. The renaming of Indochinese doctrine to “SinoTibetan” in 1924 helped to mask earlier racist underpinnings, but the model continues to treat Sinitic as a phylogenetic oddity.”

Sir, this is worth discussing. First of all, it shows that the identification of language families is not based on scientific basis but on political prejudice. Then, due to the lack of understanding of the origin of the Chinese population, the linguists did not understand the Chinese language correctly. From studying the process of population formation in East Asia shows that, although John Caspar Leyden said: “The Indo-China structure contains all the languages of Asia and Oceania down to Japanese, Polynesian and Papua New Guinea…” but in fact should be “Vietnamese Structure.” Because Vietnam was the first place where modern people appeared and from there spread to dominate Asia, Vietnamese is the mother of Eastern languages. Therefore, the Vietnamese structure contains all the languages of Asia, Oceania to Japan, Polynesia and Papua New Guinea...

From a survey of 35 stone age skulls and 35 metal age skulls found in Vietnam, Professor Nguyen Dinh Khoa discovered: "In the Stone Age, on Vietnamese soil, two prehistoric human races appeared, Mongoloid and Australoid. They interbred and their descendants continued to breed become four strains of ancient Vietnamese: Indonesian, Melanesian, Vedoid and Negritoid, the same group of Australoid type. In the metal age, the Mongoloid appeared and became the subject of this land. The Australoids gradually disappeared, whether by migration or assimilation?" (2) Of course, at this time, the leading anthropologist in Vietnam cannot know, where did prehistoric people come from and where else did the Vietnamese go? But Chuan-Chao Wang & Hui Li say the prehistoric East Asian population is distributed as follows: (3)

Haplogroup C = Melanesian

Haplogroup D = Negritos

Halogroup   N = Mongoloid

Halogruop   O = Indonesian

Thus, although there is no genetic material, with the work of Nguyen Dinh Khoa, we can confirm that people from Vietnam went to China.

During those first migrations, the ancient Vietnamese made up the world's population. Of course, Old Vietnamese was the language of the original inhabitants of the lands. Not only as John Caspar Leyden observed: "The Indo-China structure contains all the languages ​​of Asia and Oceania as far as Japan, Polynesia and Papua New Guinea", but in fact, the ancient Vietnamese language did so the original language of the Chinese, Japanese, Korean, and Native Americans, but also the subject of making up the European language. To be fair, Leyden's proposal isn't the earliest. In 1892, French Admiral Henri Frey in Paris published the work L'Annamite mere dés language, saying that Vietnamese is the mother of the world's languages. (4)

The reason Leyden's proposal was questioned is because the linguists did not understand the history of the formation of the Chinese population, so they did not understand the history of the Chinese language. Now, archeology and genetics have confirmed that the first inhabitants of China were ancient Vietnamese, mainly Indonesians. Therefore, Chinese is ancient Vietnamese. About 7000 years ago, the South Mongoloid was born in the Southern Yellow River, being a mongrel hybrid, so it was influenced by the Mongolian language. The first is in grammar. The order in Vietnamese is the main component first, the sub-element after: I đi trước, quả bầu, lá dong, thịt gà... Meanwhile in Mongolian, the main component is behind: Tôi trước đi, bầu quả, gà thịt, dong lá... After 2698 BC, when the Mongols occupied the Central Yellow River and established the Emperor's state, the Chinese language changed to a more Mongol way of speaking. However, until the Han Dynasty, Chinese was still basically Vietnamese. Witnessing this is the book  說文解字 (Shuōwén Jiězì- How to read and interpret words), a book that is considered the first Chinese dictionary but is actually a Vietnamese dictionary. It confirms that all Chinese characters are correct only when read according to Vietnamese sounds and interpreted according to the ancient Vietnamese meaning. This shows that, until the Han Dynasty, the Chinese still spoke Vietnamese.

Since the Han Dynasty, many millions of Altaic, Tungusic, and Turkic people have invaded from the West and North, and there was the periods when the Yuan and Qing people dominated China for hundreds of years, so the Chinese changed to the voice of the court in the capital. Because the Yuan and Qing are foreigners, they do not pronounce certain Vietnamese rhymes correctly, so they are forced to speak with a lisp. This lisp became the official language of the Chinese people. In fact, mandarin is a way of speaking Vietnamese livid by foreigners that is imposed on the Chinese people. It can also be said that Chinese is a degraded version of Vietnamese. Therefore, Chinese has become a deformed language in the Vietnamese language family.

Not a linguist, but searching for Vietnamese roots forced me to work with historical linguistics. I think that, two centuries ago, due to the limitations of humanities on the origin of humans and Eastern races, historical linguistics was born with the ambition of comparing languages ​​to find out the origins of different people races. But in fact, the linguists were wrong when determining the Eastern language families. This is even worse today, when most scholars carry out the reverse process to want from historical linguistics to find out the origin of the ethnic groups. I went the other way, from archeology and genetics to the early origins of Asians and their migration into the world. And naming languages ​​is the job of linguists. I hope return the correct position to the truth: Vietnamese is the source of all Eastern languages.

Looking forward to discussing this subject with you in the hope of learning more.

Best regards

Ha Van Thuy

References:

1.      Stephen Oppenheimer. Journey of Humankind - Bradshaw Foundation https://www.bradshawfoundation.com/stephenoppenheimer/index.php

2.      Nguyen Đinh Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. Hanoi, 1983

       3.    Chuan-Chao Wang & Hui Li. Inferring human history in East Asia from Y chromosomes    https://investigativegenetics.biomedcentral.com/articles/10.1186/2041-2223-4-11

       4. Henri Frey. L'annamite, mère des langues; communauté d'origine des races celtiques, sémitiques, soudanaises et de l'Indo-Chine. Paris, Hachette et cie, 1892.