XÁC
ĐỊNH LẠI VAI TRÒ CỦA HOÀNG ĐẾ
TRONG
LỊCH SỬ
Tượng Viêm Đế và Hoàng Đế ở Trịnh Châu
Trong
Sử Ký, Tư Mã Thiên khởi chép quyển một là Ngũ Đế Bản Kỷ, coi Hoàng Đế là quốc tổ
của người Trung Quốc. Hai nghìn năm nay niềm tin đó không những không thay đổi
mà càng vững chắc. Ngày 18 tháng 4 năm 2007, thành
phố Trịnh Châu, thủ phủ tỉnh Hà Nam tưng bừng khánh thành hai bức
tượng cao 106 m, được đục từ một ngọn núi đá nhìn ra Hoàng Hà. Đó là tượng
của Viêm Đế và Hoàng Đế, theo truyền thuyết là hai vị
tổ của dân tộc Trung Hoa. Truyền thuyết nói rằng:“Hoàng Đế nguyên là một trong những thủ lĩnh của bộ lạc Viêm Đế, khi hùng mạnh
đã đánh thắng Viêm Đế tại trận Phản Tuyền, trở thành thủ lĩnh của bộ lạc mới,
sau đó lại nảy sinh xung đột với bộ lạc của Xi Vưu ở phía Đông Nam. Tại trận
Trác Lộc, Hoàng Đế đã đánh bại đối thủ, thiết lập địa vị bá chủ. Sau đó con
cháu ông là Chuyên Húc và Đế Khốc kế nghiệp, giữ vị trí thủ lãnh liên minh bộ lạc.
Đế Khốc qua đời, Nghiêu được kế lập. Ông là vị vua hiền, sáng lập định chế truyền
hiền, truyền ngôi cho Thuấn.”
Truyền thuyết cũng cho hay, “Hoàng Đế
thuộc thị tộc Hiên Viên, sống ở đất Cơ nên mang họ Cơ. Viêm Đế thuộc thị tộc Thần
Nông, sống ở đất Khương nên có họ Khương”. Trác Lộc nằm ở bờ phía nam Hoàng
Hà, ngày nay thuộc huyện Trác Lộc, tỉnh Hà Bắc, phía bắc Thủ đô Bắc Kinh. Trận
Trác Lộc xảy ra năm 2698 TCN, đưa tới chiến thắng của Hoàng Đế. Truyền thuyết
trên là tư tưởng rường cột làm nên lịch sử Trung Quốc.
Tuy nhiên khi suy ngẫm sâu xa về truyền
thuyết đó, ta không khỏi nảy sinh nỗi nghi ngờ. Hoàng Đế đánh trận Trác Lộc năm
2698 TCN, đến nay ông chỉ khoảng 4700 tuổi. Ở tuổi trẻ như vậy, làm sao ông có
thể sinh ra dân tộc Trung Hoa? Dân tộc Trung Hoa non trẻ đến vậy sao? Một dân tộc
mà cụ tổ 4700 tuổi thì làm sao mà tự hào có 5000 năm lịch sử? Mặt khác, truyền
thuyết và sách vở cũng chép rằng Đế Viêm sinh năm 3220 TCN, mất năm 3080 TCN, tức là ông
sống trước Hoàng Đế 500 năm. Ở hai thời đại xa nhau như vậy, làm sao hai người lại
đánh nhau ở trận Trác Lộc?
Ông Hàn
Dũ, nhà thơ danh tiếng thời Đường có câu “bất bình tắc minh.” Gần hết cuộc đời
mình tôi đã “kêu”, đã hỏi các bậc cao minh, tra cứu sách kim cổ mà không giải
được nỗi hoài nghi, buộc phải tự mình khảo cứu. Nay xin đem những điều tra cứu
ra chiềng với bàn dân thiên hạ, mong được chỉ giáo!
I.
ĐI TÌM SỰ
THẬT.
Những khám phá mới nhất
của di truyền học cho thấy, 70.000 năm trước, người di cư châu Phi tới Hòa Bình
Việt Nam tạo nên dân cư đầu tiên của châu Á. 40.000 năm trước, hai dòng dân cư
Hòa Bình là người Việt cổ loại hình Australoid và người Mông Cổ North Mongoloid
đi lên Đông Á. Người Việt cổ chiếm lĩnh lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Người thiểu
số North Mongoloid chiếm lĩnh đất Nội Mông phía Bắc Hoàng Hà. Khoảng 10.000
TCN, khi Kỷ Băng hà cuối cùng chấm dứt, khí hậu Đông Á được cải thiện, người từ
lưu vực Dương Tử đua nhau đi lên lưu vực Hoàng Hà, tạo dựng những thành tựu nông
nghiệp nổi bật: cây lúa nước được thuần hóa, cày ruộng đã phổ biến, đồ đá mài
tinh xảo, đồ gốm đa dạng với độ nung cao. Lụa tơ tằm dùng cho may mặc. Chữ Giáp
cốt trưởng thành. Nghề chăn nuôi gà, chó, lợn phát triển. Hình thành quan niệm
Âm, Dương, ngũ hành, trời tròn đất vuông, Kinh Dịch ra đời… Người Việt cổ xây dựng
hai trung tâm kinh tế và văn hóa lớn là Trong Nguồn thuộc đồng bằng Hán Thủy và
Thái Sơn thuộc đồng bằng Sơn Đông. Năm 3300 TCN, Đế Viêm vị tổ thứ ba và là thủ lĩnh của tộc Việt từ An Huy
đi xuống Hàng Châu lập kinh đô Lương Chử, dựng nhà nước Thần Nông. Đế
Viêm truyền được 8 đời: Đế Lâm Khôi, Đế Thừa, Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai, Đế Ai,
Đế Du Võng.
Trên đất Nội Mông,
người Mông Cổ cũng hoạt động mạnh. Họ sống du mục và một phần trồng kê. Liên kết
với dân du mục ở Trung Á, họ học được nghề nấu đồng, chế tác công cụ và vũ khí
bằng đồng. Họ cũng biết thuần hóa ngựa, đóng xe ngựa, trở nên dũng mãnh. Thời kỳ
này khí hậu phía bắc trở nên khô hạn, cuộc sống của họ bị đe dọa. Họ càng thèm
khát chiếm miền Trung Hoàng Hà làm phúc địa cho muôn đời con cháu. Năm 2698
TCN, thủ lĩnh Hiên Viên thống lĩnh dân du mục đánh vào Trác Lộc, chiếm đất của
người Việt lập nhà nước Hoàng Đế.
Hai nghìn năm nay,
cùng với trận Trác Lộc là sự biến mất của Đế Du Võng và sự xuất hiện của nhà nước
Hoàng Đế được coi là những sự kiện độc lập, không liên quan tới nhau. Nhưng khi
khảo cứu sâu hơn về những sự kiện này, ta thấy Đế Nghi
(2889-2884 BC), Đế Lai (2843-2794 BC), Đế Ai (2795-2751 BC) và Đế Du Võng
(2752-2696 BC). Điều này nói lên rằng, thủ lĩnh Hiên Viên của người Mông Cổ đã
tiêu diệt Đế Du Võng, chấm dứt triều đại Thần Nông Bắc và mở đầu thời đại Hoàng
Đế.
Giải
thích sự kiện này như thế nào? Theo chúng tôi, nó giống như vào cuối thời Tống,
Hốt Tất Liệt tập hợp một số bộ lạc người thiểu số Mông Cổ rồi kéo quân vào đồng
bằng miền Trung, diệt nhà Tống lập nhà Nguyên.
II.
TRUYỀN THUYẾT BỊ ĐÁNH TRÁO
Truyền thuyết là những
câu chuyện được lưu truyền trong dân gian rồi được ghi lại thành văn bản. Truyền
thuyết gồm hai dạng. Một là những truyện thần thoại phản ánh tư duy nguyên sơ của
con người. Hai là ký ức của con người về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ.
Chính nhờ những những ký ức này, người xưa đã kết nối lại để viết lên những
trang sử. Do được hình thành như thế nên phần nhiều truyền thuyết là những câu
chuyện mang hồn cốt của sự thật. Nhưng khi khảo xét một số huyền thoại thời
Hoàng Đế, ta thấy những điều không bình thường. Trong khi có huyền thoại “Viêm
Đế và Hoàng Đế là anh em trong bộ lạc Viêm Đế”, “Viêm Đế đánh nhau với
Hoàng Đế ở Trác Lộc năm 2698 TCN” thì cũng có ghi chép Đế Viêm sinh năm 3220 TCN mất năm 3080
TCN, có nghĩa là Đế Viêm sống trước Hoàng Đế nửa thiên niên kỷ! Và “Năm 3300
TCN, từ An Huy, Đế Viêm đi xuống vùng cửa sông Chiết Giang, xây kinh đô Lương
Chử của nhà nước Thần Nông.” “Dòng Thần Nông
truyền được tám đời.”…Giải
thích thế nào về những sai biệt này?
Chúng tôi cho rằng, sự việc đã diễn ra như sau: Năm
2698 TCN, người Mông Cổ từ Nội Mông đánh vào Trác Lộc rồi chiếm thung lũng sông
Hoàng Hà. Hoàng Đế lên ngôi truyền cho Chuyên Húc. Chuyên Húc truyền cho Đế Khốc.
Đế Khốc truyền cho Đế Nghiêu. Thực hiện thể chế truyền hiền, Đế Nghiêu truyền
cho Đế Thuấn. Không chấp nhận mất quyền, hai người con của Đế Khốc là Tiết và Tắc
chống lại. Bị Nghiêu và Thuấn đánh, ông Tiết và ông Tắc từ Trung Nguyên chạy dạt
ra phía tây. Sống ở vùng thảo nguyên khô hạn, người của Tiết và Tắc từ bỏ việc
trồng kê để chuyển sang sống du mục. Cuộc sông du mục giúp cho đội quân của Tiết
và Tắc trở nên hùng mạnh. Cuối triều Hạ, con cháu Hạ Vũ suy đồi, ông Tiết và
ông Tắc kéo quân từ đồng cỏ phía Tây về diệt Hạ Kiệt. Dân gian thấy người từ
phía Tây kéo vào Trung Nguyên nên lâu dần hình thành truyền thuyết “Người từ
phía Tây đi vào Trung Nguyên, làm nên tộc Hoa Hạ, cội nguồn của dân tộc Trung
Hoa.” Cùng với nó là truyền thuyết về tộc Hoa hạ thượng đẳng, về các tộc Man,
Di, Địch, Rợ…
Đến thời Chu xuất hiện Chu Cơ Đán là tổng công trình
sư xây dựng nhà Chu. Cùng với việc ổn định giềng mối quốc gia, ông còn là nhà văn
hóa lớn, viết Thoán từ cho Kinh Dịch. Với ý đồ chiến lược xây dựng triều Chu
thành triều đại tiêu biểu của Trung Hoa, ông biến nhiều sự kiện của nhà Chu
thành việc mở đầu của lịch sử Trung Quốc. Ông quy cho tổ của ông là Hậu Tắc đại
công khai sáng nông nghiệp Trung Quốc. Ông đặt ra lễ tế thần Xã Tắc thay cho lễ
tế Thần Nông. Rút ngắn lịch sử nghề nông Trung Quốc xuống hàng nghìn năm. Nhờ
chữ nho đang trở nên phổ biến, ông “nhuận sắc” một số câu chuyện truyền miệng
trong dân gian theo hướng củng cố vai trò Hoàng Đế và nhà Chu.
- Trong dân gian, những người gốc Lê thờ tổ Thần Nông,
còn người gốc Mông nhận tổ Hoàng Đế. Nhận tổ tiên là việc trọng đại nên không
thể ép buộc. Để biến Hoàng Đế thành tổ chung của dân Trung Quốc, Chu Công xóa gốc
Mông Cổ của Hoàng Đế bằng cách đặt ra câu chuyện “Hoàng Đế sinh ở Cơ Thủy nên
mang họ Cơ”, “Viêm Đế họ Khương”, đều là người thung lũng Hoàng Hà, vốn là anh
em thân tộc. Không chỉ vậy, khi đó trận Trác Lộc khét lẹt một thời đã lùi xa nửa
thiên niên kỷ, chẳng mấy ai còn nhớ năm tháng… Vì thế đưa ra câu chuyện “dù có
đánh nhau nhưng vốn là anh em thân tộc nên Viêm Hoàng sớm hòa hiếu trở lại”. Tiếp
đó ghép “Viêm Hoàng thành tổ chung của dân tộc Trung Hoa”. Giải pháp này được cả
hai phía chấp nhận, được ghi vào điển tịch và truyền tụng cho tới hôm nay. Người
gốc Việt không mất ông tổ Thần Nông lại được lãi thêm ông tổ Hoa Hạ thượng đẳng
nên ai cũng vui vẻ! Với thời gian, người thiểu số Mông Cổ hòa tan trong dân Việt
đông đảo, mọi người càng hoan hỷ vì có ông tổ kép.
-Theo tục “công quy vu trưởng” (công lao dành cho người
trưởng), nhiều công lao của cộng đồng được quy cho Hoàng Đế. Cái tục này còn
truyền mãi về sau như cuốn sách y học nổi tiếng được Kỳ Bá viết thời Hán cũng
được quy cho Hoàng Đế, lấy tên là Hoàng Đế Nội kinh.
Những sự thật trên dẫn tới kết luận: là những bộ tộc
thiểu số sống trên đất Nội Mông đang bị đe dọa sa mạc hóa, một nhóm người do thủ
lĩnh họ Hiên Viên dẫn đầu đã đánh vào Trác Lộc chiếm đất của người Việt. Với mục
đích chiếm đất chiếm dân lâu dài xây dựng phúc địa cho nòi giống, các thủ lĩnh
Mông Cổ đã kiên trì thực hiện chiến lược đồng hóa số người dân bản địa đông đảo.
Bằng sự khoan nới sức dân, bằng ưu tiên, đề cao “chủng Hoa Hạ thượng đẳng” giả
tưởng, các thủ lĩnh Mông Cổ đã nhận được sự ủng hộ của dân bản địa. Sự đồng hóa
kiên trì hàng nghìn năm khiến cho dân gốc Việt tại Trung Nguyên hoàn toàn tin rằng
mình thuộc “chủng tộc thượng đẳng”, còn những tộc người ngoài biên giới Trung
Hoa là Man, Di, Địch, Rợ…
Tuy nhiên, thực tế cho thấy đó là sự lừa đảo vĩ đại nhất
trong lịch sử. Trung Hoa không hề có cái gọi là “tộc Hoa Hạ thượng Đẳng”. Bởi lẽ
93% dân Trung Quốc là người Việt hiện đại South Mongoloid, cùng mã gen với các
chủng tộc Đông Á khác. Mặt khác, dù có bằng mọi cách đề cao Hoàng Đế thì ông vẫn
là kẻ xâm lăng, là ngoại tộc sinh sau đẻ muộn đối với dân Trung Quốc.
III.TÌM LẠI LỊCH SỬ
THỰC CỦA ĐÔNG Á
Hai nghìn năm nay người
Trung Quốc được tạo dựng một lịch sử giả, “Người từ phía Tây du nhập Trung
Nguyên làm nên tộc Hoa Hạ thượng đẳng, là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa”. Trong
khi nhận thủ lĩnh đội quân xâm lăng đáng hàng cháu chắt làm tổ tiên, người
Trung Quốc từ bỏ gốc Việt của mình, coi khinh, chèn ép đồng bào cùng huyết thống.
Đến nay, nhờ tri thức mới của nhân loại, chúng ta đã tìm lại lịch sử chân thực
không chỉ của Trung Quốc mà còn của người Đông Á.
Lịch
sử Đông Á bắt đầu bằng tổ Đế Viêm => Đế Lâm Khôi => Đế Thừa => Đế Minh
=> Đế Nghi => Đế Lai => Đế Ai => Đế Du Võng. Sau khi diệt Đế Du
Võng, họ Hiên Viên lập nhà nước Hoàng Đế bắt đầu là Hoàng Đế =>Thái Hạo
=> Chuyên Húc => Đế Khốc => Đế Nghiêu => Đế Thuấn …
Chi Thần Nông Nam bắt đầu bằng Kinh
Dương Vương => Lạc Long Quân => Hùng Vương…
Sau khi Đế Du Võng bị diệt, dòng Thần
Nông Bắc chấm dứt. Dòng Thần Nông Nam bị cắt đứt liên hệ với ngành trưởng
phương Bắc nên rơi vào khuyết sử.
Ở đây, chúng tôi xin xác định quan hệ
huyết thống giữa người Việt Nam và người Trung Quốc. Di truyền học cho biết, 40.000
năm trước, người Việt cổ từ Hòa Bình đi lên Điền Nguyên Động làm nên tổ tiên
người Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản… 7000 năm trước, tại di chỉ Bán Pha tỉnh
Thiểm Tây, người Mông Cổ phương Bắc North Mongoloid hôn phối với người Việt cổ
mã di truyền Australoid, sinh ra người Việt hiện đại chủng South Mongoloid.
5000 năm trước, kế thừa truyền thống của người Việt cổ, người Việt hiện đại làm
nên dân cư lưu vực Hoàng Hà, xuất hiện tổ Phục Hy-Nữ Oa và sau đó Đế Viêm xây dựng
nhà nước Thần Nông tại kinh đô Lương Chử…
Năm
2698 TCN, do cuộc xâm lăng của người Mông Cổ, dân Việt ở Trong Nguồn và Thái
Sơn phải chạy xuống Nam Dương Tử. Theo thời gian, người di cư đi tới Việt Nam
2000 năm TCN. Sau thời gian “đi làm ăn xa” quá lâu, khi trở về Hòa Bình Việt
Nam, người Việt không còn nhớ đây chính
là cội nguồn phát tích của giống nòi. Chỉ nhớ tới Hoàng Hà, Động Đình Hồ, Dương
Tử nên đặt ra câu ca “Công cha như núi
Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước Trong Nguồn chảy ra” để ghi nhớ cội nguồn, ghi nhớ
tổ tiên nơi đồng bằng trung tâm. Hàng trăm năm nay, người Việt Nam và người
Trung Quốc luôn có tranh luận, giữa hai dân tộc có quan hệ với nhau như thế nào?
Trước đây dù thấm nhuần truyền ngôn “Việt Hoa đồng văn đồng chủng”, chúng tôi cũng
băn khoăn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Khi viết bài báo này, do phải tra cứu
thứ thế các chi Thần Nông Bắc và Thần Nông Nam, chúng tôi mới đủ chứng lý để khẳng
định người Việt Nam và người Trung Quốc cùng là người Việt hiện đại, thuộc
chủng Mongoloid phương Nam. Chủng South Mongoloid được sinh ra tại làng Bán
Pha gần Tây An tỉnh Thiểm Tây 7000 năm trước. Nhưng điều quan trọng hơn là cả
hai dân tộc cùng là hậu duệ của tổ Đế Viêm. Người Việt Nam thuộc nhánh Thần
Nông Nam là chi thứ nên là em của người Trung Quốc.
Từ
nghiên cứu trên, có thể đưa ra kết luận như sau:
1.Do bị
đánh tráo nên đến nay người Trung Quốc chưa nhận ra tổ tiên thực sự của mình.
Hoàng Đế không phải tổ tiên người Trung Quốc mà là thủ lĩnh bộ lạc thiểu số từ
Nội Mông đánh chiếm thung lũng Hoàng Hà, lập nhà nước Hoàng Đế. Trong lịch sử
Trung Quốc, thứ thế của Hoàng Đế ngang với Đế Du Võng của dòng Thần Nông Bắc. Tổ
tiên người Trung Quốc chỉ có một, là Đế Viêm. Năm 3300 TCN cụ từ An Huy xuống cửa
sông Chiết Giang lập nhà nước Thần Nông, khai sinh nhà nước đàu tiên ở phương
Đông.
2.Không
có tộc Hoa Hạ thượng đẳng. Tổ tiên người Trung Quốc cũng như phần lớn dân tộc
châu Á khác là người Việt hiện đại, được sinh ra tại làng Bán Pha tỉnh Thiểm
Tây 7000 năm trước, khi người Việt cổ Australoid hòa huyết với người North
Mongoloid sinh ra người Việt hiện đại South Mongoloid.
3.Lịch
sử Trung Quốc là thành quả hoạt động xã hội của toàn thể nhân dân Trung Quốc; nên
lịch sử hiện có đến hôm nay là thành quả của nhân dân Trung Quốc. Người Trung
Quốc có quyền tự hào cũng như sám hối về lịch sử của mình. Nhưng để làm những
việc quan trọng ấy, trước hết cần chấp nhận sự thật lịch sử.
Sài Gòn, 1.6. 2026